[Truyện Ma Voz Dài Kỳ] Tặc miêu – Quyển 2

Loading...

NHÀ MA HÒA VIÊN
Hồi thứ 1: Kim Ngọc Nô
Nói đến đoạn bọn Trương Tiểu Biện ba người chẳng biết trời cao đất dày đem cương thi mỹ nhân trà trộn vào thành Linh Châu, kết quả là vừa vào thành đã bị lạc vào một ngõ cụt trong mê cung đường ngang ngõ cắt. Không ngờ lối ngõ cũ u ám vắng người này chính là địa bàn của đàn mèo hoang. Trong phút chốc cả ba người bị đàn mèo vây chặt. Chớ xem thường một hai con mèo không dọa được ai, nhưng một khi chúng đã tụ tập thành bầy, nhao nhao đến như ong thì quả thực khiến người ta sợ hãi.
Thành Linh Châu hay còn gọi là Miêu Nhi thành này, sản sinh nhiều nhất là mèo khoang. Gọi chúng là mèo khoang không có nghĩa lông trên người chúng rực rỡ đủ màu, mà những con chỉ có hai màu lông đen trắng hoặc vàng trắng pha tạp cũng đều thuộc giống này. Thảng như có những con mèo thuần một mèo lông thì chắc chắc đều từ ngoài thành vào cả, mèo gốc Linh Châu không bao giờ như vậy.
Chuyện này người địa phương ai ai cũng biết, Trương Tiểu BIện đã nhiều lần vào thành Linh Châu nên cũng hiểu được phần nào. Hắn biết đây chính là ngõ MIêu Nhi, ngõ của bầy mèo hoang trong thành. Bức tường cao chắn lối phía trước kia, chắc hẳn là tường hậu của ngôi Miêu Tiên từ nổi tiếng linh thiêng trog truyền thuyết. Người dân quanh vùng không cúng tiên cáo, tiên cầy gì chỉ thích vào trong miếu cầu xin tiên mèo phù hộ, ban phúc, lộc, thọ, gặp phải chuyện lớn chuyện nhỏ đều đến ngôi miếu này cầu nguyện, cũng là do phong tục bản xứ mà ra, nên thường có ngày mang thịt, bánh bao ném vào sau miếu cho mèo ăn, coi như làm việc thiện. Đám hòa thượng và đạo sĩ trong thành Linh Châu cũng không được người dân trọng vọng bằng dám mèo hoang.
Lâu dần, nhưungx con mèo ăn vụng, mèo lười vô chủ trong toàn thành đều tề tựu xung quanh Miếu Tiên từ. Buổi sáng chúng nằm ngủ phơi nắng, tỉnh dậyt hì ăn cá thịt do bọn thiện nam tín nữ cúng dường. Bọn mèo này được dám ngu dân nuông chiều thành quen, để rồi trogn toàn thành chẳng còn con mèo khoang nào chịu bắt chuột ban đêm nữa. Bởi thế, ngoài mèo ra, thành LInh Châu còn nhiều chuột hơn. Dịch chuột đã sắp thành thảm họa đến nơi.
Thói thường có thịnh ắt có suy, mấy năm gần đây, thiên tai địch họa liên miên, lòng người bất an, phong tục dần bị lãng quên, hầu hết dân chúng đều không đủ cơm áo mặc, chạy ăn từng bữa, chẳng mấy ai còn quan tâm đến việc cung phụng cho lũ mèo ông, mèo bà này. Hương khói trong đền miếu, đạo quán đều ảm đảm chưa từng thấy.
Khổ cho lũ mèo lười nhác háu ăn, trong ngôi đèn cổ này, con anof con nấy đói đến vàng mắt, nằm bẹp trên xà, trên tường kêu “meo, meo” thảm thiết, khó khăn lắm mới thấy ba người kéo cỗ xe lừa vào trong ngõ, chúng liền tưởng là tín chủ đến dâng hương cúng tế. Theo thói thường, lát nữa ắt sẽ có vật lễ tung ra, để bọn đồ tử, đồ tôn của Miêu Tiên gia nhà chúng được một bữa no nê.
Chẳng biết tại sao ba người nọ cư ngơ ngác, vào đây đã lâu rồi mà cứ ngồi trơ không nhuc nhích, cũng chẳng bày bánh trái thịt thà ra. Đám mèo bực lắm rồi, lòng như lửa đốt, mồm miệng nhỏ nước dãi, bèn sấn đến gần cỗ xe lừa mỗi lúc một gần hơn.

Trong lòng Trương Tiểu Biện xoay xở rất nhanh, dã mau chóng tìm ra cách. Thấy bầy mèo tỏ vẻ không lành, lại nhớ đến truyền thuyết từng nghe được trong thành, hắn đã hiểu tám chín phần sự thể. Bọn mèo phàm ăn này đến đòi ăn uống đây mà! Lúc này nếu không xua chúng đi, một khi để làm ầm lên, ắt sẽ kinh động đến đám lính dõng đi tuần thì cả ba bọn người giấu cái xác chết mang vào thành dù không bị quan phủ nghi là gián điệp của Việt khấu thì cũng bị coi là đạo tặc đào trộm mộ. Tới lúc bị giải tới chốn nha môn tra khảo thì Trương Tam gia ta dẫu có mọc thêm một trăm cái miệng cũng không biện bach nổi.
Trong đầu nảy ra một ý, hắn ngay lập tức nhớ đến đám ếch béo trong bao gai, vội gọi Tôn Đại Ma Tử và Tiểu Phượng. Hắn vốn định bảo: Mau đem ếch trên xa cho mèo ăn! Nào ngờ trong đầu mải nghĩ tới cương thi mỹ nhân có thể đổi lấy nửa đòi sau phú quý giàu sang, cuống quá thành nói nhầm: Mau lôi cương thi ra cho mèo ăn!
Tôn ĐẠi M Tử và Tiểu Phượng vẫn đinh ninh phải đem cương thi cho mèo ăn. Thịt cương thi gọi là “mãn hương”, nghe đâu cũng có người ăn nhưng chưa ngeh nói mèo ăn được, hơn nữa, cả bọn vất vả cực khổ mãi mới đem được vào trong thành, đều là nghe theo lời khua môi múa mép của Trương Tiểu Biện, chứ thực sự chẳng hiểu rốt cuộc hắn muốn giở trò gì, nhất thời bấn loạn, đứng ngây ra không biết nên làm gì cho phải.
Thấy hai người kia đờ ra không làm gì, Trương Tiểu Biện cuống lên vội bật dậy, Tam gia ta lại phải đích thân động thủ vậy. Hắn nhảy phắt lên xe mở bao tải, ném vung những con ếch béo đang bị nhồi đến dở sống dở chết ra khắp ngõ. Bầy mèo ngửi thấy mùi tanh, lập túc sang mắt, nhe nanh, kêo “ngao, ngao”, xông tới vồ bọn ếch, cắn xé.
Nhân lúc đàn mèo đánh chén lũ ếch, Trương Tiểu Biện lại bỏ cái bao cương thi vào bao tải, bảo Tôn ĐẠi Ma Tử vác lên vai, kéo tay Tiểu Phượng chuồn khỏi ngõ, cả cỗ xe cũng bỏ lại luôn. Cả bọn sợ giẫm phỉa những con mèo đang vục mặt ăn ếch, đành phải nhón từng bước, nép vào tường àm đi. Mới đi được vài bước, chợt thấy con mèo khoang có đủ màu lông pha sắc vàng, trắng, chạy ra khỏi dám mèo, ngồi im trên mặt đất không nhúc nhích, chăm chú nhìn vào cả bọn ba người.
Bọn Trương Tiểu Biện thấy cổ quái, bất giác chú ý tới con mèo nọ, chỉ thấy nó không giống mèo hoang tầm thường, tuổi tác cũng không già lắm, da bóng lông mượt, đôi mắt nhoang nhoáng, rất có thần thái, từ cử chỉ đến khí độ đều ung dung phi phàm, xem ra đây chính là thủ lĩnh của bầy mèo hoang.
Trương Tiểu Biện chợt nhớ lại thuật xem mèo đoán chó, liền quan sát kỹ một lượt. Con mèo này hai tai tròn trịa, khác hẳn mèo thường, có lẽ là giống mèo “Kim Ngọc Nô” được chép trong thư tịch cổ, đốm vàng thì như vàng ròng, đốm trắng thì như bạch ngọc. Từ đời Hán đến nay, đã là một loại mèo quý hiếm trên thế gian. hắn ta người nghèo chí ngắn, không khỏi nảy sinh tà niệm, bụng bảo dạ: “Nếu đem con Kim Ngọc Nô này bán ở Kinh thành, chắc hẳn có nhiều bối lặc, vương gia biết người biết của, thích chơi mèo, có khi cũng được… ”
Trương Tiểu Biện đương lúc nảy ra ý nghĩa đen tối thì chợt thấy con Kim Ngọc Nô đột nhiên ngẩng đầu, nheo nheo mắt, nhếch mép mỉm cười với ba người. Nụ cười đó khiến bọn Trương Tiểu Biện ba hồn bảy vía lên mấy. Từ xưa tới nay, khắp gầm trời này không có mèo nào biết cười bao giờ. Ai mà gặp phải một con mèo biết cười, thì đúng là gặp phải yêu quái rồi.

Trương Tiểu Biện thấy nụ cười của con mèo hết sức quái dị, lập tức nhớ lại tình cảnh đếm mèo trong cổ mộ Kim QUan lúc trước, trong lòng giật nảy lên một cái, không dám tiếp tục nhìn con Kim Ngọc Nô nữa, hai chân chạy như bay ra khỏi lối ngõ hẹp như làn khói
Tôn Đại Ma Tử và Tiểu Phượng cũng đều hoảng sợ, chạy theo sau Trương Tiểu Biện. ba người chạy qua một lối ngõ khác, đến một góc phố có người qua lại mới dám dừng lại thở hổn hển, trong lòng còn chău hết kinh hoàng, mãi chẳng nói lên lời.
Tôn Đại MA Tử bỏ cương thi mỹ nhân trên vai xuống đất,thở hổn hển giây lát, rồi hỏi Trương Tiểu Biện:”Ma mị thật! Mỗ đây lớn chừng này rồi, ngày thường thấy vô số mèo nuôi, mèo hoang những chưa từng thấy con mèo nào biết cười cả, nghe nói mèo không cười được là vì mặt mèo không có sợi gân cười. Con mèo chúng ta vừa thấy lúc nãy, nhất định là yêu quái trong miếu cổ, phải mời pháp sư thực thụ mới được, tránh để lâu ngày sẽ gieo hoạ cho bách tính vô tội.
Tiểu Phượng lại nói: “Có lẽ là Miêu từ đã lâu không có hương khói, nay chúng ta đai bầy mèo hoang một bữa ếch to, khiến chúng không chịu đói nữa, Miêu tiên gia thấy vui lòng nên mới hiển linh như vậy. Tiểu Tam ngươi bảo có đúng không?”
Trương Tiểu Biện đáp: “hai người chưa trải sự đời, biết gì mà nói chứ? Tuy rằng mèo có ở khắp nơi trên thế gian này, những kẻ tầm thường tưởng đã quá quen thuộc, những thực chất lại không biết hết ngóc ngách về chúng. Tam gia ta nói ra không phải để dạo hai người, chẳng những mèo biết cười mà sau lưng chúng ta chúng còn biết nói nữa. Dẫu là mèo trắng, mèo đen, hay mèo khoang thì đều biết nói tiếng người, có điều đó là việc cấm kị nên chúng không dám cất lời đấy thôi, chỉ khi nào không có tai mắt con người chúng mới lên tiếng”
Tiểu Phượng và Tôn Đại Ma Tử đều lắc đầu không tin: “Chú đang nói về vẹt chứ đâu phải về người. Ai thấy mèo thốt lên tiếng người bao giờ?”
Trương Tiểu Biện ra vẻ thần bí, hạ giọng nói: “Có một phép lạ thời cổ có thể ép con mèo nói được. Đầu tiên bắt một con mèo đực, vào lúc trăng tròn thì xích nó trước gương… ”
Tôn Đại Ma Tử là người thẳng thắn, chuyện gì chưa thấy thì đều cho là nói xằng, liền không đợi Trương Tiểu Biện nói xong, gã đã hết kiên nhẫn, nằng nặng hỏi lý do hắn đem cái thây vào thành làm gì, để đến nỗi cả bọn phải chịu bao nhiêu điều sợ hãi, nếu không nói thí thật hơi có thiếu trượng nghĩa.
Trương Tiểu Biện bị cật vấn gắt gao thầm tính tạm thời chưa thê giãi bày đầu đuôi câu chuyện, chỉ còn cách nói tình nói lý cho họ hiểu. hăn cũng học hai năm ở trường làng, nói nửa văn vẻ nửa quê mùa, cộng thêm cái mồm lanh lợi, kể lể bịp bợm một hồi thành ra thấu tình đạp lý , khiến Tôn Đại Ma Tử và Tiểu Phượng vừa nghe vừa gật đầu lia lịa.
Chỉ nghe Trương Tiểu Biện thuận miệng ba hoa: “Trời không sinh ra người không có lộc, đất không sinh ra cỏ không có rễ, các người thấy trong thành bao nhiêu kẻ mặc lụa là gấm vóc không, chúng cũng như chúng ta mà thôi. Ta chả kém gì chúng, thế mà chúng ăn mo mặc ấm, còn chúng ta thì tan cửa nát nhà, nghèo tới mức áo không đủ che thân, người không một đồng cắc? tổ tiên của hai người ra sao thì ta không rõ, nhưng tổ tiên nhà họ Trương tab a đời không có con trai phạm pháp, sáu đời không có con gái tái hôn, toàn là người chuyên làm việc thiện tích đức. Chẳng lẽ truyền đến đời Trương tam gia ta lại phải cả ngày nhịn đói nhịn khát, đi đến đâu cũng bị người đời khinh rẻ, như thế lẽ nào ông trời kia không có mắt? Hoàn toàn không phải như vậy, có câu rằng: “Người hiền bị người hà hiếp chứ trời không hà hiếp“, có một vị thần tiên sẵn lòng cứu bần tế khổ, muốn đauw chúng ta khỏi bể khổ mà được vinh hoa phú quý, chính vì vậy, khi ở trong mộ cổ đã mách bảo Tam gia ta con đường kiếm ra tiền trăm bạc vạn. KHông rõ các ngươi đã từng nghe qua câu này chưa: “Mệnh do trời định sẵn, việc bởi người làm nên”. Cảnh giàu sang, cả đời ăn tiêu không hết, làm gì có chuyện ngồi mát mà có được bát vàng? Nhất định phải trải qua nguy hiểm, vượt qua phong ba, chứ nếu không trên đời này làm gì có kẻ nghèo nữa”

Trương Tiểu Biện lại kể lời dặn của Lâm Trung Lão Quỷ, cắt đầu cắt đuôi đi một chút, rằng việc chuyển thi thể vào trong thành là để mang đến một cửa hàng lâu đời có tên là ” Tùng Hạc đường”. Nếu tìm đến đúng chỗ thì núi vàng núi bạc chẳng mấy mà hiện ra trước mắt. Song Tùng Hạc đường buôn bán cái gì và nằm ở chỗ nào trong thành thì hoàn toàn không biết.
Tôn Đại Ma Tử và Tiểu Phượng dường như đã tỉnh ngộ, ba người vội tìm một chỗ kín đáo để bàn bạc, đoán rằng cương thi mỹ nhân là một món cổ vật trong Ứng Trủng sơn, tùng Hạc đường là một cử hiệu chuyên buôn bán cổ vật, chỉ nghe cái tên không thôi cũng đã thấy cổ kính rồi, chắc hẳn là như vậy, khốn nốn lại không biết cái tiệm ấy nằm ở phố lớn nào nữa.
Đường ở mồm, cả bọn chia nhua đi thăm dò, chẳng ngờ khi nghe hỏi về cửa hàng đồ cổ Tùng Hạc đường thì người trong thành đều lắc đầu không biết. “thời bình gom đồ cổ, lúc loạn tích tiền vàng“, bây giờ là lúc giặc cướp trong thiên hạ nổi lên như ong, trừ thành Bắc Kinh ra thì làm gì còn nơi nào buôn bán đồ cổ nữa chứ? Các cửa hiệu đồ cổ trước kia, nay đều đã đóng cửa cả rồi. Cuối cùng chỉ có duy nhất một vị hòa thượng trụ trì một ngôi chùa lẻ trong thành mới bảo bọn Trương Tiểu Biện rằng: “Trong thành Linh CHâu không có cửa hiệu đồ cổ Tùng Hạc đường, nhưng lại có một hiệu bán thuốc tên là Tùng Hạc đường, nằm ở đường Thanh Thạch phía bắc thành, mặt đường toàn lát đá xanh. Hiệu ấy lớn nhất phố, chỉ cần đi khỏi đây mấy trăm bước sẽ thấy biển hiệu của nó, rất nổi bật dễ tìm”
Bọn ba người Trương Tiểu Biện ngẩn tò te nhìn nhau, hóa ra lúc trước đoán sai, xem ra tám phần mười đúng là cái hiệu thuốc Tùng Hạc đường đó rồi, chẳng lẽ hiệu thuốc mua cái xác về phối làm thuốc ư? Như vậy món làm ăn này phạm phải điều cấm kị rồi, nghĩ thế cả ba khó tránh khỏi cảm giác thắc thỏm không yên, song lại nghĩ, cứ đến đó rồi mới biết, cùng lắm thì co chân bỏ chạy là xong.
Quyết ý như thế, cả bọn vòng qua một ngõ nhỏ tránh đám lính dõng tuần thành, tìm đến phố Thanh Thách, quả nhiên thấy một hiệu thuốc to, từ xa đã ngửi thấy mùi thảo dược tỏa ra nức mũi. Trước cửa hiệu có treo một biển lớn đề ba chữ rồng bay phượng múa: “Tùng Hạc đường”, bên trong sảnh có tấm hoành phi cổ: “Huyền hồ tế thế”( Treo bầu thuốc cứu đời), mấy tầng lầu gác trập trùng trông đến là hoành tráng.
Cổng lớn hiệu thuốc mở rộng, nội đường, ngoại đường đều được quét dọn tinh tươm, người ra người vào không ngớt. Tầng một là nơi bốc thuốc, bày hàng loạt tủ thuốc cao ngất, sơn then bóng loáng, ngoài hai người chánh phó đứng quầy thuốc, còn có bọn người làm, học việc chạy qua chạy lại nhộn nhịp. Phía trước tấm bình phong lớn kê ở nhà ngang bày một bộ bàn ghế, một thày lang đầu râu tóc bạc, chuyên chẩn mạch kê đơn đáng bách mạch cho bệnh nhân.
Trương Tiểu Biện thấy hiệu thuốc đông người, nào dám tùy tiện bước vào, liền nấp ở một góc phố chờ tới lúc cửa nẻo lên đèn, trông thấy Tùng Hạc đường bắt đầu đóng cửa, gần đó lại không có bóng quan binh, hắn mới để Tiểu Phượng ở ngoài đợi, rồi cùng Tôn Đại Ma Tử bê cương thi mỹ nhân, rỏa nước đến trước cửa.
Tên người làm trong Tùng Hạc đường đương lúc bận bịu, thấy hia kẻ áo quần lam lũ đột nhiên chạy vào, tưởng là ăn xin, liền trừng mắt lên, cầm ngược cái chổi lông gà định đánh đuổi bọn Trương Tiểu Biện và Tôn Đại MA Tử ra khỏi cửa.

Trương Tiểu Biện vội vã vái chào, bịa chuyện: “Chúng tôi đến bán dược thảo quý hiếm, có món hàng này mong trưởng quầy ghé mắt một chút.”
Nào ngờ tên người làm này là một đứa học việc quen cậy thế làm càn, trong mắt có coi hai kẻ rách rưới như Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử ra gì. Hắn trổ cán chổi vào mặt cả hai, mắng: “Hai thằng ranh không có mắt các ngươi từ đâu đến? Sao dám lằng nhằng trước cửa Tùng Hạc đường. Ông đây cũng có món hàng đây này, để ông cho chúng bay xem trước!” Nói xong hắn hằn học vụt nhầu cái chổi lông gà xuống
Ngày thường, Tôn Đại Ma Tử rất hao trò đánh côn, múa quyền, dẫu sao cũng có vìa ngón võ, lại thêm huyết khí phương cương, làm sao chịu để hắn đánh cho. Gã giơ tay nắm chặt lấy cổ tay tên nọ, sừng sộ quát: “Mỗ đến bán thuốc, không phải pường đạo tặc trèo tường khoét vách. Chưa rõ đầu đuôi ngọn ngành sao ngươi dám đánh? Phải cho nhà ngươi biết nắm đấm của mỗ đây lợi hại thế nào… ”
Tên người làm bị Tôn Đại Ma Tử bóp chặt cổ tay, đau quá, kêu rống lên như lợn bị chọc tiết làm kinh động mọi người trong cửa hiệu, ngay tắp lự có mấy người cầm then cửa, chổi tre, ghế dài định xông vào giúp. Trương Tiểu Biện kêu lên: “Khổ quá,

Diêm Vương dễ cáu, tiểu quỷ khó dây, chưa trông thấy trưởng quầy đây đã bị bắt, lần này chắc bị giải đến công đường đánh chết thôi, không hiểu con nha đầu Tiểu Phượng có lòng tốt đến nhặt thi thể của hai bọn ta không”.
Tôn Đại Ma tử nóng máu lắm rồi, đang xuống tấn lấy thế chuản bị nghênh chiến, chẳng ngờ, đúng lúc ấy, tiếng huyên náo đã kinh động đến Thiết trưởng quầy của Từng Hạc đường.
Lời của tác giả
: Lão Thiết chưởng quầy này là tên gian thương nổi tiếng keo kiệt ở đất Linh Châu, một đồng một cắc cũng không dám tiêu, tiền vào như nước nhưng tiền ra nhỏ giọt. Nếu có ai đó đòi lấy hơn của Thiết chưởng quầy một đồng thì chẳng khác nào rút gân của lão, người này bẩm sinh có cặp mắt gà chọi thế nên còn có hiệu là “Thiết Công Kê” (gà trống sắt).

Thiết Công Kê xưa này vẫn ngấm ngầm cấu kết vưois quan lại. Lão là kẻ tiểu nhân tham lam, chỉ chăm chăm mưu lợi, tìm trăm phương ngàn kế khiến các hiệu thuốc trong thành phải đóng cửa, thành ra tới giờ, các cửa hiệu kinh doanh dược thảo lớn nhỏ ở Linh Châu đều mang họ Thiết, lại nhân lcus thiên tai địch họa, ôn dịch tràn lan, lão bán thuốc thu lợi rất nhiều. Cuộc sống người dân thường đã như chỉ mành trao chuông, bệnh nhẹ thì cắn răng chịu đựng, những người đến đây kê đơn bốc thuốc đều là những con bệnh nặng chờ cứu mạng, đành phải bấm bụng để Thiết CÔng KÊ hét giá cắt cổ. Biết bao người nghèo đã phải bán trẻ đợ con vì mấy cái đơn thuốc của lão.

Càng là những con buôn khắc bạc, keo bẩn như vậy, thì càng đặt mục tiêu trục lợi lên hàng đầu, lão nghe ngoài cửa ồn ào, liền ra hỏi, mới hay có hai người muốn đến bán thảo dược quý hiếm những bọn người làm thấy họ rách rưới tưởng là tụi rỗi hơi đến phá đám. Thiết Công Kê vốn định tỏ vẻ ta đây, mặt mày lạnh lùng, nghe đến bốn chữv “dược thảo quý hiếm”, lập tức đảo cặp mắt gà nhìn nhìn chằm chằm vào cái bao tải trên lưng Trương Tiểu Biện vén môi cười gian xảo.

Mặc dù cái bao gai bẩn thỉu y như đống bùn, nhưng bên trong thì lùng bùng, như đang chứa một vật gì đó. Thiết Công Kê vốn là kẻ tay trắng làm nên, hồi trước phát tài cũng là nhờ tình cờ có được mấy cử sâm già đã thành hình. Lão biết rằng, bọn miền ngược tuy nghèo khổ nhưng thường xuyên vào rừng sâu núi thẳm mưu sinh, cơ hội đào được các thứ kì hoa dị thảo không phải là không có, riêng điểm này thì không thể nhìn bề ngoài mà xét đoán được. Chẳng cần biết thứ hai đưa nhỏ này muốn bán là thuốc thật hay giả, cứ mãng ra xem cũng chẳng mất gì. Nhược bằng, chúng là bọn lừa đảo thì sẽ hô người đánh đập cũng không muộn.

Nghĩ như thế, Thiết Công Kê liền quát bọn giúp việc dừng tay, cười khùng khục một cách cổ quái rồi sai người mời Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử vào nội đường nói chuyện.

Thiết Công Kê dẫn theo lão thủ quỹ tâm phúc, đưa bọn Trương tiểu Biện vào bên trong, lệnh cho đám người còn lại ở ngoài canh gác, đoạn vào trong đóng cửa lại rồi ngồi xuống, cũng chẳng mời trà nước gì, chỉ liếc nhìn vào cái bao tải to rồi nói với Trương Tiểu Biện: “Còn đứng trơ ra đấy? Có gì muốn bán thì mang ra xem nào!”

Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử tuy trống ngực đập thình thịch nhưng lúc này đã chẳng còn đường lui, đành cố tỏ vẻ cứng cỏi mở bao gai, để lộ ra một cái xác nữ trần truồng không hàm dưới và nói: “Mời ông xem qua… “

Lão thủ quỹ đứng gần bao tải nhất, vốn mắt kém, lúc đầu nhìn không rõ, ngạc nhiên thốt lên: “Củ nhân sâm lớn quá”, rồi vội đeo kính lão vào, rướn người lại gần xem cho kĩ, vừa nhìn một cái, lão đã sợ tới mức đánh rơi cả kính: “Cha mẹ ơi, là… là cường thi” rồi kêu lên: “Nhất định đào trong mộ cổ ra rồi, tởm quá! Chưởng quầy! tôi sẽ báo bọn người làm đem dây trói hai tên tặc tử đào trộm mộ này, giải đến nha môn xét xử!”

Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử thấy đại sự đã hỏng, định quay người phá cửa mà chạy, nhưng Thiết Công Kê không kinh hoàng như lão thủ quỹ mà ngược lại, thần sắc trên khuôn mặt lão biến đổi liên tục, đột nhiên đứng lê lật hẳn bao tải ra, ngắm nghía từ trên xuống dưới thể trạng và dung mạo của cái xác. Con người lão tuy tiểu nhân gian xảo những rất thông hiểu y lý, dược lý, nhớ nhiều bài thuốc cổ, cũng là một kẻ biết nhìn hàng hóa. Lão xem xong, gật đầu nói: “Đây là Mỹ nhân vu của đời trước. hai ngươi phải nói thật, có được cái này từ đâu?”

Trương Tiểu Biện nào biết cái gì là Mỹ nhân vu, đành nói được là đào được ở vườn sau nhà, cũng không biết lai lịch thế nào. Có người học rộng trong làng bảo đây là một vị thuốc quý nên mới lặn lội mang vào thành, nghe có hiệu Tùng Hạc đường nổi tiếng đã lâu, tiếng lành đồn xa, già trẻ đều trọng… “

Không đợi Trương Tiểu Biện nói hết câu, Thiết Công Kê “hừ” một tiếng, rồi cười nhạt, mắng: “Nói năng lung tung! Xung Quanh ứng trủng sơn đều là đất chó ăn đá, gà ăn sỏi, ngoài mấy ngôi mộ ra thì còn thứ thuốc gì trân quý nữa? Đây rõ ràng là xác chết của triều đại trước. Có điều, mặc dù là vật quý xưa nay nhưng chỉ e chả đáng mấy đồng. trong thành Linh Châu này, ngoài tar a chẳng có người thứ hai biết hàng nữa đâu. Các người đã tìm đến đây âu cũng là một cơ duyên, cho nên ta cũng chẳng che giấu gì nữa, những việc khác thôi không bàn, chỉ mặc cả với các ngươi một cái gái hợp lý. Thuận mua vừa bán rồi sẽ bảo các người biết lai lịch của vật này…

Tôn Đại Ma Tử tưởng Thiết CÔng Kê chịu trả một món tiền lớn, trong lòng vui mừng, chửng để ý nghe lão phát giá đã tỏ ý ưng thuận ngay. Lúc đó, trong đầu Trương Tiểu Biện chợt loé lên, nhớ đến lời Lâm Trung Lão Quỷ: “Mang cái xác này đến Tùng Hạc đường, cho dù hắn phát giá bao nhiêu cũng không đồng ý, đừng tham món lợi nhỏ, chỉ cần đòi con mèo đen ở hậu viên Tùng Hạc đường là được. Nếu không có con mèo đó thì núi vàng, núi bạc chôn giấu trong thành Linh CHâu sẽ không tìm được đâu. Con mèo đen nuôi ở Tùng Hạc đường chính là chìa khoá mở ra kho báu ở thành Linh Châu đấy”

Đúng là: “Sống chết có số; Phú quý nhưof trời; Huyền cơ ngầm ẩn; Chỉ trong vài lời; Tin hay không tin; Tự quyết mà thôi”. Muốn biết sự thể thế nào, xem hồi sau sẽ rõ.
Hồi thứ 2: Mỹ nhân Vu
Lại nói, Tôn Đại Ma Tử đang định phát giá tại chỗ, bán phắt cỗ cương thi cho lão Thiết Công Kê, chưởng quầy hiệu thuốc Tùng Hạc đường, liền bị Trương Tiểu Biện ngăn lại không cho gã mở miệng đòi tiền.
Trương Tiểu Biện cười hì hì, bảo với Thiết Công Kê: “Vị huynh đệ mặt mụn nhà tôi vốn là người hay bông đùa, chưởng quầy chớ nên tưởng là thật. Bọn tiểu nhân ai nấy đều biết Tùng Hạc đường hành nghề y dược, gieo nghĩa cử cứu giúp người nghèo, hôm nay may mắn có được vật quý Mỹ… Mỹ… Mỹ nhân vu, có ý định đưa vật về với chủ, đáng lẽ ra, nên hai tay dâng lên, chứ nào dám đòi tiền của chưởng quầy”.
Thiết Công Kê là kẻ cực kỳ keo bẩn, xưa nay chưa từng dễ dãi cho ai một đồng, một cắc. Lão đang tính cách giết hại cả hai để cướp trắng pho Mỹ nhân vu này, chứ chẳng định trả đồng nào hết. Lúc đó, nghe Trương Tiểu Biện nói không cần tiền bạc, lão hết sức ngạc nhiên. Lão lấy bụng ta suy ra bụng người, nên càng nghĩ càng không hiểu nỗi, thầm nghĩ, trong gầm trời này làm gì có cuộc mua bán nào không cần tiền, đã không phát giá lấy tiền thì nhất định có môt âm mưu khác.
Trương Tiểu Biện nói: “Chưởng quầy quả nhiên liệu sự như thần, xưa nay thuận mua vừa bán, không cướp không hàng hóa bao giờ, nhưng chúng tiểu nhân dẫu mặt dày đến mấy cũng không nỡ lòng nào thò tay lấy tiền bạc của ông, chỉ to gan xin đổi lấy một vật trong quý phủ”.
Thiết Công Kê nhíu mày, hằn học nhìn chằm chặp vào Trương Tiểu Biện, nói: “Muốn tiền, muốn vật thì có khác gì nhau? Các người đừng vòng vo với bản chưởng quầy, có gì thì nói thẳng, còn muốn đánh rắm thì ra ngoài mà đánh, muốn cái gì thì nói rõ ra”.
Mấy lời ba hoa bốc phét Trương Tiểu Biện không cần nghĩ ngợi là đã có ngay, tức khắc dựng lên một câu chuyện, rằng ở vùng Úng Trủng sơn hiện đang có nạn chuột hoành hành, bẫy chuột, bã chuột đều không thể trị được những bọn cứng cổ đó. Bây giờ đang lúc chiến tranh, bà con đều ăn không đủ no, chỉ có một ít lương thực dự trữ, cả ngày chỉ lo chuột đến đục khoét, khổ sở khôn xiết.
Từ xưa đến nay, mèo vốn là thiên địch của chuột, ngưới ta thường nuôi mèo để đuổi chuột, nhưng mèo trong cái thành lẫn phương viên mấy trăm dặm này toàn là mèo khoang Linh Châu, chùng nhờ phúc ấm của Miêu Tiên Gia, quen thói ăn trắng mặc trơn, chẳng bao giờ chịu bắt chuột.

Trương Tiêu Biên nói, được biết ở hậu viện của Tùng Hạc đường có một con mèo đen tuyền như phủ môt lớp than mịn, thần thái phi phàm, bắt chuột cả ngày không biết mệt, ngạn ngữ có câu:

“Chó khôn canh ba hộ, mèo giỏi giữ ba nhà”, bọn mèo khoang sản sinh ở bản địa tuyệt đối không thể so bì với con mèo đen này được. Huynh muội ba người bọn họ quyết tâm trừ diệt nạn chuột trong làng, nên mới liều chết mang Mỹ nhân vu vào thành để đổi lấy con mèo đen đó mang về.
Nguyên trong nhà của Thiết Công Kê mấy năm nay bị chuột hoành hành dữ dội, đúng là có nuôi một con mèo đen. Vốn lão định nuôi mèo để bắt chuột, nào ngờ con mèo đó chỉ thích vồ chim sẻ, ngày nào cũng trèo cây leo xà để phá tổ chim, xưa nay không hề để ý đến lũ chuột đang tung hoành dưới bếp, gặp phải chuột thì nó cũng cứ lờ đi như không trông thấy.
Con mèo đen ấy nhiều khi khiến Thiết Công Kê tức tới trợn trắng cả đôi mắt gà chọi. Về sau lão được một thuật sĩ biết xem tướng mèo bảo cho, mới biết rằng con mèo đen này từ hai mắt đến chót đuôi đều ẩn một đường kim tuyến, dưới ánh trăng sao mới nhìn thấy được, trong “Miêu phổ” gọi là con “Nguyệt Ẳnh ô đồng kim tuyến miêu”. Chính vì có đường kim tuyến liền mạch như thế, con mèo đen này không phải là mèo đen tuyền mà thực chất là một con mèo khoang hai màu chính tông của Linh Châu.
Từ khi biết được điều này, Thiết Công Kê đã sớm có ý vứt con mèo đen vô dụng đó đi. Bây giờ thấy Trương Tiểu Biện muốn đổi Mỹ nhân vu lấy mèo, lão thở phào nhẹ nhõm, không phải dốc hầu bao thì Thiết chưởng quầy sung sướng gì bằng? Chỉ sợ Trương Tiểu Biện hối hận đổi ý, lão liền lập khế ước, sai thủ quỹ ra đằng sau nhà ôm con mèo đen ra đổi.
Tôn Đai Ma Tử thấy thế, cuống lên đến nỗi gân xanh trên trán giần giật, gã vội nắm vai trái Trương Tiểu Biện, nói: “Lão tam hồ đồ thế? Có câu:

Gái ngoan không nuôi chó, trai ngoan chớ dưỡng mèo. Đàn ông con trai mà nuôi mèo trông nó ẻo lả đi, đàn bà con gái mà nuôi chó thì mất đi vẻ hiền thục. Sao chúng ta lại bỏ tiền ngay thóc thật trước mắt để đổi lấy một con mèo đen trong hiệu thuốc làm gì?”.
Tuy nhiên trong lúc này, tất cả đường gân thớ thịt trong người Trương Tiểu Biện đều tập trung vào con mèo đen ở hậu viện Tùng Hạc đường, cho rằng muốn trở nên đại phú đại quý cần phải nhẫn nhịn lúc này, hoàn toàn không hề nôn nóng giống như Tôn Đại Ma Tử. Khi ấy, lòng hắn cứng rắn như thép, đừng nói Tôn Đại Ma Tử, dẫu cho Quan Thế Âm Bồ Tát giáng trần cũng chẳng thể khuyên hắn nghĩ lại được.
Lúc đó lão thủ quỹ đã ôm con mèo đen ở hậu viện ra, Trương Tiểu Biện vội đưa mắt nhìn. Thấy con mèo đen nhỏ tuy trông có vẻ lười nhác uể oải, nhưng nếu dung phương pháp xem tướng mèo cao minh để quan sát, tự nhiên sẽ nhận ra sự xuất chúng của nó.
Con mèo có gì xuất chúng? Có lời khen làm chứng như sau: “Rồng đen vào mắt, chỉ vàng xuyên; Mây tối bọc mình tựa nhuộm then. Vuốt sắt có phen móc lật ngói; Quật đuôi bảy đốt gió dâng lên”. Đây đúng là một con “Kim tuyến miêu” rất hiếm có trong đám mèo khoang ở thành Linh Châu.

Trương Tiểu Biện nén nỗi vui mừng như phát điên trong lòng, đón lấy con mèo đen từ tay lão thủ quỹ, giở nghề xem tướng mèo, xoắn tai mèo, kéo đuôi mèo, nắn gân cốt, xem vòm miệng. Hắn mê muội cả đầu óc, cho rằng có được con mèo này thì bao nhiêu kho báu chôn ở thành Linh Châu sẽ về tay hắn, nhưng không dám lộ sơ hở trước mặt Thiết Công Kê, chỉ mở mồm cảm ơn rối rít, giả vờ như phải mang ngay con mèo về làng bắt chuột, rồi nói mấy câu từ biệt ra về.
Thiết Công Kê thấy không tốn chút tiền bạc nào mà đổi mèo đen lấy Mỹ nhân vu, quả là một việc đáng vui mừng. Lão định bụng để Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử về làng tìm thêm vài món hàng như thế này rồi mang trộm vào thành, nên không vội tiễn khách mà cất tiếng gọi người chắt một bình “cao mạt” mang ra khoản đãi và kể cho cả hai nghe về lai lịch của Mỹ nhân vu.
Nghe kể, ai nấy đều kinh hãi, các bạn có biết vì sao không? Thì ra, Mỹ nhân vu là vật của triều trước, không phải thứ có ở đời nay. Triều trước tức là triều Minh. Từ đời Hồng Vũ Hoàng đế khai quốc trở đi, đã từng một độ quốc thái dân an, bốn bề thanh bình, nhưng tới những năm cuối đời Minh, nhà họ Chu khí số sắp hết, chính sự bế tắc, không dung hiền thần, bọn gian thần hoạn quan thừa cơ nắm quyền hành.
Bọn hoạn quan trong triều thả sứa hút máu mỡ của nhân dân. Bọn người này vốn không thể sinh con đẻ cái, phải chịu cảnh vô hậu, nên lối hưởng thụ hết sức khác người, bệnh hoạn. Để thỏa mãn nhu cầu tinh thần biến thái của bản thân, chúng nghĩ ra rất nhiều phương thức hưởng lạc xa hoa, dâm dục vô độ, trong đó có Mỹ nhân vu.
Thế nào là Mỹ nhân vu? Nghe tên là đoán ra nghĩa, tức là dùng người sống làm thành cái ống nhổ đờm. Mua nữ nô tỳ về, chọn lấy một người trẻ đẹp, cả ngày bắt quỳ trong phòng, mỗi khi thấy chủ nhân ho khạc, người đẹp phải lập tức hé mở đôi môi hồng xinh xắn, đón lấy bãi đờm chủ nhân nhổ ra rồi bấm bụng nuốt vào. Thế gọi là Mỹ nhân vu.
Vào thời ấy, quan lại quý tộc đều đua nhau học theo, nhà ai càng giàu có, thế lực thì càng phải có Mỹ nhân vu. “Mỹ nhân vu” càng xinh đẹp bao nhiêu càng thể hiện thân phận cao quý của chủ nhân. Phong khí này kéo dài mãi tới khi cánh Yêm đảng thất thế mới dần dần bị phế bỏ.
Thiết Công Kê tuy nhân phẩm thấp kém nhưng rất hiểu biết phương vật của các triều đại. Lão biết rằng trong Úng Trủng sơn có mộ táng của triều trước và đã bị bọn đào trộm mộ khai quật vào hồi cuối Minh đầu Thanh. Lão thấy Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử vác đến một cái xác nữ, hình thái hết sức kỳ dị, quỳ gối ngửa cổ, không có hàm dưới, liệu chừng trước khi chết dùng vật sắt rạch ra nên mới thế, lão liền đoán rằng, đây là Mỹ nhân vu được bồi táng theo mộ.
Mấy năm nay, Thiết Công Kê tìm trăm phương ngàn kế thu thập các tử thi ngậm hờn mà chết, giờ thấy Mỹ nhân vu thì như mèo thấy mỡ, nhưng lão không hề có ý dùng thịt cương thi chế làm thuốc, mà cũng giống như Trương Tiểu Biện, trong lòng lão có sẵn mưu đồ đen tối riêng. Ngoài mặt, lão mở cửa hàng thuốc nhưng bên trong ngấm ngầm làm rất nhiều việc bí mật khác không để người ngoài biết, làm sao có thể dễ dàng dốc hết gan ruột của mình ra được? Lão nói đến đó liền giấu giếm không kể tiếp nữa, chỉ bảo hai người rằng: “Kỳ thực, Mỹ nhân vu là một cái xác cổ từ triều trước, Hình luật đã cấm không cho quật lên hay làm tổn hại nó. Bách tính tầm thường có nó cũng vô dụng. nhưng bản chưởng quầy hiểu được phương cổ, sẽ dùng thịt nó để chế thuốc cứu người, lại cam tâm tình nguyện thay các ngươi gánh chịu mối họa tày trời này. Các ngươi phải nhớ giữ mồm giữ miệng không được tiết lộ nửa lời, bằng không sẽ phải lằng nhằng với quan phủ đấy.”

Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử rốt cuộc đã hiểu Mỹ nhân vu là cái gì, sợ đến nổi da gà, chỉ muốn nôn mửa, những lời Thiết Công Kê nói lúc sau đều ngơ ngơ ngẩn ngẩn, nghe chẳng để tâm.
Thiết Công Kê lại nói nhỏ to một hồi, chỉ vòng vo nhai đi nhai lại mấy ý đó. Trương Tiểu Biện cũng chỉ ứng tiếng qua loa vài câu. Hắn đã có được con mèo đen Linh Châu thì không muốn nấn ná ở lại Tùng Hạc đường nữa, liền ôm mèo từ biệt. Trước khi đi, hắn còn quay lại hỏi thăm Thiết Công Kê một chuyện nữa: “Nghe nói trong thành Linh Châu trước kia, có một vị quý nhân họ Lâu. Trong phủ nhà họ Lâu có trồng rất nhiều cây hòe nên còn được gọi là Hòe viên. Từ khi nhà họ Lâu lụn bại, Hòe viên trở nên hoang phế, tiểu nhân muốn hỏi thăm tòa phủ đệ đó hiện bây giờ còn hay mất?”
Thiết Công Kê nghe thế thì thoáng ngẩn người: “Hậu nhân họ Lâu nghèo rớt mùng tơi, sớm phải đem cơ nghiệp tổ tiên bán đi. Hiện giờ, Hòe viên là tài sản của Thiết gia ta. Bọn khố rách áo ôm các ngươi hỏi thăm làm gì?”
Trương Tiểu Biện chỉ nhớ lời dặn của Lâm Trung Lão Quỷ, đầu tiên đem xác chết ở Úng Trủng sơn đổi mèo, sau đó đến Hòe viên để tìm báu vật chứ chưa từng nghĩ đến việc Hòe viên của Lâu gia đã đổi chủ. Hắn chợt nảy ra một ý, liền nương theo lời Thiết Công Kê đáp luôn: “Trời sắp tối mịt đến nơi, cửa thành cũng đã đóng lại, trong thành lại giới nghiêm rất ngặt, bọn tiểu nhân không có người thân thích ở đây, định mượn tạm nơi miếu nát nhà hoang nào đó ngủ tạm một đêm, đợi trời sáng rồi về. Nghe mọi người nói có tòa Hòe viên đổ nát mới nảy ý định đến đó, không ngờ lại là sản nghiệp của Thiết chưởng quầy.”
Hòe viên là một khu nhà cổ, đình đài nhà cửa bố trí rất ư điển nhã, bên trong có nhiều đá cảnh, suối nước, hoa cỏ điểm xuyết cho nhà vườn, rất nổi tiếng trong vùng. Thiết Công Kê đã nhắm Hòe viên từ mấy năm trước, giở trò cưỡng đoạt được, chẳng ngờ trong khu nhà ấy lại có ma, người sống không ở được, đành bỏ hoang cả cơ ngơi to lớn đó cho tới giờ.
Thiết Công Kê lúc nào cũng muốm chiếm phần lợi lộc về mình. Lão đảo đảo tròng mắt, nghĩ bụng, khu Hòe viên đó bỏ không thì cũng đã bỏ không rồi, mấy năm nay đến bọn gõ mõ cầm canh cũng không dám đi ngang qua đó chứ đừng nói đến chuyện sang nhượng được cho thằng xúi quẩy nào. Chi bằng cứ để bọn Trương Tiểu Biện nhà quê lên tỉnh này vào đó ở một đêm, nếu chúng mạng xấu không chết thì tiếng đồn xấu về khu nhà ma tự nhiên cũng không còn nữa. Vạn nhất ma quỷ lấy mạng chúng thì chẳng qua cũng chỉ là một vụ án không đầu không mối. Trong cái thời buổi loạn lạc này, chết mấy đứa cung khổ cũng chẳng phải việc gì to tát. Quyết ý như thế, lão liến ra vẻ rộng lượng lấy ra một chùm chìa khóa quăng lên mặt bàn, nói: “Các cổng thành đã đóng hết rồi, những nơi miếu hoang đền hoang, buổi tối thường có lính dõng đi tuần, nếu gặp phải dân tránh nạn hay ăn mày, đa phấn bọn lính ấy bất luận tốt xấu đều bắt hết lại, trước tiên cứ coi như là gian tế mà nghiêm minh tra khảo một phen, sau đó nhẹ thì tống vào đại lao, nặng thì đánh chết ngay tại chỗ. Thành Linh Châu này lớn thì lớn thật nhưng chẳng có mấy chỗ để qua đêm đâu. Khu Hòe viên phía Nam thành của họ Thiết nhà ta là khu nhà hoang không người ở, bên trong chẳng có gì đáng giá, có điều cả năm không ai quét dọn nên có chỗ… có chỗ không được sạch sẽ lắm, nếu các ngươi không chê thì có thể ở lại đó qua đêm cũng được.”

Trương Tiểu Biện nghe thấy thế vội vã nhặt chùm chìa khóa lên, nói: “Không chê, không chê, bọn chúng tôi xưa nay chưa hề phạm pháp. Trong đêm tối, nếu vô duyên vô cớ bị quan binh bắt vào ngục, chắc những người dân an phận thủ thường như chúng tôi sẽ bị giết oan, chỉ e đến chết cũng không sao gỡ được mối oan khuất tày trời đó.”
Hắn tỏ vẻ cảm ơn Thiết Công Kê nhưng cười thầm trong bụng: “Cứ tưởng Thiết Công Kê ngươi gian như giống ranh, hôm nay lại trở thành bàn đạp cho Trương Tam gia ta giàu sang phú quý, đúng là nhất cử lưỡng tiện, đã thế ông ôm con mèo đem vào Hòe viên tìm kho báu luôn.”
Trương Tiểu Biện tuy tính toán khéo nhưng rốt cuộc không có tài tiên tri. Nếu giờ có người biết trước điều gì sẽ xảy ra trong Hòe viên, nhất định sẽ ôm chặt không cho đi, liều chết ngăn lại. hắn không đi còn không được, chứ đi lần này nhất định sẽ gây ra một tay họa tày trời, khiến cho thành Linh Châu máu chảy thành sông, ngoài thành sẽ mọc thêm vô số những nấm mồ mới.
Muốn biết tình hình cụ thể trong nhà ma Hòe viên ra sao, xem hồi sau sẽ rõ.
Hồi thứ 3: Dật sự đền tiên

Lại nói, trên đời này, vạn vật đổi dời, hưng vong xoay chuyển, biển xanh cũng có thể biến thành ruộng dâu, đời con người ta rốt cuộc giàu sang hay nghèo khổ thật khó mà nói trước. Chính vì vậy, thường có rất nhiều người lòng tham không đáy, luôn mong chờ có được sự giàu sang phú quý mà không biết rằng, trong gầm trời này người tốt cũng phải chịu cảnh nghèo đói lầm than. Chi bằng an phận thủ thường, tùy duyên mà sống, tìm lấy sự yên tĩnh, bình an là hơn.

Trương Tiểu Biện rốt lại thì kiến thức kém cỏi, chỉ thích làm những việc dễ dàng. Hắn nóng lòng phát tài, thấy đổi được con mèo đen của hiệu thuốc tự cho là đắc thể, nghĩ là sắp đạt được tới đích, chỉ mong mau chóng đến Hòe viên tìm của, chẳng thèm quan tâm đó là nhà ma nhà quỷ gì. Hắn cầm chìa khóa trong tay, cảm tạ Thiết Công Kê đã cho tá túc, lại lấy cớ không còn sớm sủa nữa, cùng Tôn Đại Ma Tử vội vã cáo từ ra về.

Thành Linh Châu về đêm nghiêm cấm người dân ra ngoài. Phố lớn ngõ nhỏ đều có từng tốp quan binh lính dõng rầm rập tuần tra. Lúc bấy giờ quân thủ thành đang thiếu, các nhà, các hộ đều phải cắt cử trai tráng ra giúp. Thiết gia có một người lão bộc bị điều động làm lính già chuyên cầm canh gõ mõ báo giờ. Người này hiểu rõ đường lối trong thành, có thể giúp tránh khỏi lính tuần sát. Sau khi được Thiết chưởng quầy dặn dò, lão dẫn bọn Trương Tiểu Biện đi đến Hòe viên.

Tạm thời không nói Thiết Công Kê sẽ xử lý cái cương thi đó như thế nào, riêng bọn Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử sau khi ôm con mèo đen ra ngoài tìm Tiểu Phượng rồi cả ba vội vàng theo người lính già , luồn qua ngõ phố trong bóng đêm. Trương Tiểu Biện mồm mép trơn như mỡ, tán phét vài câu, bắt thân với người lính già nọ, thăm dò và biết được, người lính già lấy họ Thiết của chủ nhân, tên là Trung, từ ông tổ tám đời đã là người bản địa LInh Châu.

Lão hán Thiết Trung chừng năm mươi tuổi, lời nói và tướng mạo đều không có gì xuất chúng, xem ra chỉ là một lão bộc già trung hậu mà thôi. Lão mặc một cái áo cộc cũ nát có đánh số, tay xách ngọn đèn lồng, đeo thanh la và mõ phèng, vừa đi vừa hô: “Bình an vô sự đơi… ơi… Cẩn thận củi lửa đơi… ơi… “

Mấy người đi vào một ngõ nhỏ tối om om, thấy đã gần đến nơi, Thiết Trung đột nhiên ngừng lại, nói với bọn ba người Trương Tiểu Biện: “Không phải ta dọa các người đâu, nhưng trong thành Linh Châu này chẳng ai không rõ, trong Hòe viên đúng là có ma quỷ ẩn hiện, hại chết không biết bao nhiêu mạng người rồi. Hàng phố bốn bên đều sợ tòa nhà ma này nên đã chuyển đi hết. Cả dãy phố này, ngoài chuột và mèo hoang thì chẳng còn sinh vật nào nữa đâu. Đến lúc tối đêm, ngay cả đám lính dõng tuần tra cũng không dám đi ngang qua đây. Lão hán ta nói một câu khó nghe thế này, bọn hậu sinh các ngươi đêm nay nhỡ ra gặp ma, chết trong Hòe viên, chắc còn khó tìm được người đi nhặt xác. Nếu nghe lời khuyên thật lòng của ta thì nhân lúc này hãy còn sớm, mau tìm chỗ khác mà tạm trú qua đêm đi.”

Trương Tiểu Biện chẳng hề để tâm, vốn không để lời của lão hán lọt vào tai, nghĩ thầm, Tam gia ta có biệt hiệu “Trương to gan”, chẳng phải chỉ là hư danh tự dưng mà có được đâu. Mấy năm ở miếu hoang đền nát, chẳng lẽ sợ một chỗ nhà vườn trong thành ư? Nghĩ đoạn, hắn liền nói với lão Thiết Trung rằng: “Cảm tạ lão nhân gia có lòng chỉ bảo, nhưng trong lúc nửa đêm canh khuya này, trong thành còn có chỗ nào chứa chấp được bọn tiểu nhân nữa? Tiểu nhân Trương Tam cũng chỉ là một kẻ cùng đinh, quỷ thần còn chẳng thèm lấy mạng, vì vậy gan to mật lớn, mấy cái bọn yêu ma tép riu, tiểu nhân không hề sợ sệt gì đâu.”

Tôn Đai Ma Tử rất khoái nghe những câu khoác lác kiểu anh hùng hào kiệt, liền tiếp lời luôn: “Người sợ ma ba phần, ma sợ người bảy phần, chúng tôi đều là đại trượng phu, khí nuốt bốn bề, xưa nay đi thì ngay, ngồi thì thẳng, trong lòng sẵn có đám lược. nếu trên đời này thực sự có loài yêu quỷ, theo lý chúng phải sợ chúng tôi mới phải.”

Từ lúc vào thành tới giờ, Tiểu Phượng luôn run rẩy sợ hãi, nhưng cô ả nhà quê cũng không hiểu biết gì, đến gặp người lạ cũng khó mở miệng nói chuyện. Cô ả thấy một dãy phố, nhà cửa chẳng có chút tăm hơi tiếng người, hơn nữa lại còn tối đen kìn kịt không có lấy một đốm lửa, càng thêm khiếp sợ, đang định khuyên mọi người đừng vào trong căn nhà ma, bỗng nghe trên mái nhà phía sau cất lên tiếng mèo kêu: “Meooo”, nghe sởn cả da gà, kinh hãi suýt ngã bệt xuống đất, may mà lão hán Thiết Trung đỡ được.

Trương Tiểu Biện nghiêng ngó thăm dò, trong đêm đen khó biết được tung tích con mèo hoang, chỉ thấy đường lối, nhà cửa xung quanh có chút quen thuộc, chợt nhớ ra nơi đây rất gần ngõ Miêu Nhi đã đi qua hồi sáng.

Lão Thiết Trung bảo Tiểu Phương: “Chớ có sợ, mèo hoang trong thành rất đông, đặc biệt là khu xung quanh Miêu Tiên từ này. Các ngươi gan lớn tày trời dám qua đêm trong nhà ma, tuyệt đối không phải chuyện giỡn chơi đâu. Ta chỉ là một gã gõ mõ cầm canh, chẳng nói được đạo lý gì ra hồn, chắc không khuyên bảo được các ngươi, nhưng đúng lúc đi qua chỗ này, thì cũng nên vào đền rập đầu trước Miêu Tiên gia vài cái, may ra lão nhân gia phù hộ cho các ngươi được một đêm bình an.”

Đất Linh Châu có tục thờ Miêu Tiên gia, bọn Trương Tiểu Biện ba người hết sức tin theo, đồng thời, cũng là lấy thêm chút can đảm nên đồng thanh khen hay, thuận lối đi vào ngôi đền cổ. bệ thờ trong sảnh có môt pho tương thần bằng đất, áo xanh, râu dài, ánh mắt từ bi, giống như một nhà Nho bụng đầy chữ nghĩa. Nhìn thần vị thì chẳng phải ai khác, chính thị là Miêu Tiên gia đã nhiều lần hiển linh ở đất này.

Bọn Trương Tiểu Biện tuy nghe danh Miêu Tiên gia đã lâu nhưng không biết xuất xứ lai lịch của di tích cổ này, cũng chưa lần nào vào miếu thắp hương, xưa nay vẫn tưởng vị đại tiên nọ là con mèo già đắc đạo. Lúc này nhìn rõ, không khỏi lấy làm ngạc nhiên, nhưng không dám báng bổ, vội cung kính quỳ xuống rập đầu, khấn khứa trước thần vị rằng: “Bọn tiểu nhân là các thiện nam tín nữ, xin đại tiên gia nhất thiết phải phù hộ cho chúng đệ tử gặp hung hóa cát, gặp hiểm hóa lành. Từ nay về sau nếu được mở mặt, có thể có được một chút phú quý nhất định sẽ không quên mua một ít cá muối, bánh bao để bố thí cho mèo hoang trong miếu. Nhược bằng Miêu Tiên gia khai ân, phù hộ cho chúng đệ tử được đại phú đại quý thì nguyện tô tượng kim thân, xây chùa, dựng tháp cho lão nhân gia. Chúng con lòng thành, mong tiên gia hiển linh chứng cho.”

Lễ bái Miêu Tiên gia đâu đấy, Trương Tiểu Biện thấy hơi lạ, định hỏi cho rõ ngọn nguồn, liền thăm dò lão hán Thiết Trung: “Bọn tiểu nhân mới nghe nói Miêu Tiên là thần trong thành Linh Châu, chứ không rõ sự tích đắc đạo của đại tiên gia, rốt cuộc không biết ngài vốn xuất thân từ đâu? Chuyện bắt đầu và kết thúc thế nào?”.

Lão Thiết Trung từ nhỏ đã tin Miêu Tiên như tin Phật Tổ, Bồ Tát, thấy bọn Trương Tiểu Biện không biết lai lịch của đại tiên, liền trách móc: “Các ngươi là đồ ngu muội lưu manh chỉ giỏi những chuyện đâu đâu, van vái trong đền một hồi mà ngay cả chuyện về Miêu Tiên lão nhân gia cũng không biết rõ?”

Mắng rồi, lão kể: Tương truyền chuyện xảy ra cách đây đã mấy trăm năm, hồi đó Linh Châu đã nổi tiếng nhiều mèo rồi. ngoài thành có một ngôi chùa cổ tên là Bỉ Lôi tự, xây dựng từ thời Nam Bắc triều, nhiều lần bị binh lửa phá hủy, nhưng rồi lại được trùng tu, quy mô ngôi chùa càng về sau càng lớn. Trong chùa đời nào cũng có cao tăng trụ trì, hương lửa rất thịnh vượng.

Từng có một vị cao tăng pháp hiệu là Đàm Chân. Lão hòa thượng này sống hơn trăm tuổi, tuy tuổi tác cao nhưng thông hiểu Phật lý thiền cơ, biết được việc quá khứ, vị lai, khi giảng kinh thuyết pháp thì lời lẽ ảo diệu vô biên, từng câu từng chữ như nảy hoa sen. Trên có quan lại phú hào, dưới có nông dân bách tính đều coi ngài là Phật sống trong Bỉ Lôi tự. Đàm Chân lão hòa thượng không màng việc tụng, hàng ngày ở trong chùa thắp hương, tụng kinh.

Trước cửa Bỉ Lôi tự có một cái ao phóng sinh, trăm họ trong vùng gọi là Bỉ Lôi đường. Đó là một cái đầm cổ nghìn năm nay chưa từng cạn nước. Nước xanh tĩnh lặng, dù tiết trời có nắng nóng thế nào, xung quanh Bỉ Lôi đường vẫn luôn mát rượi. Phàm những ngôi chùa lớn một chúa đều có ao phóng sinh, trong ao nuôi thả các loại cá, rùa. Ao phóng sinh, một là thể hiện đức hiếu sinh của nhà Phật, hai là trữ nước để phòng cháy, ao to hay nhỏ phụ thuộc vào quy mô của chùa. Bọn mèo lớn mèo nhỏ trong thành Linh Châu thường tới bờ ao xem cá. Mèo không biết bơi, nhìn lũ cá bơi trong ao, chúng cũng chỉ biết đứng hóng cho mát và rõ dãi thèm suông, vì vậy trước chùa Bỉ Lôi thường có nhiều mèo hoang qua lại, từ lâu sư sãi trong chùa đã coi đ1o là chuyện thường tình rồi.

Cũng bởi các vị hòa thượng trong chùa đều ăn chay nên mèo hoang chỉ lượn lờ ngoài Bỉ Lôi đường chứ rất ít khi vào chùa, chỉ riêng có một con mèo già toàn thân lở loét, mấy năm trời, đêm ngày quanh quẩn trong chùa.

Chú tiểu quét chùa sẵn lòng từ bi, thấy con mèo già ấy, liền tìm ít thảo dược chữa bệnh lở loét cho nó. Nào ngờ, thuốc không đúng bệnh, con mèo càng thêm lở loét, toát ra mùi hôi khó tả, thà không dùng thuốc còn hơn. Chú tiểu nọ từ đấy không dám chăm sóc nó nữa.

Sáng hôm đó, tại Phật đường, hòa thượng Đàm Chân giảng xong Nam Mô Diệu Pháp, gọi chú tiểu quét chùa vào, chỉ con mèo già lở loét đang nằm bẹp trên xà nhà đối diện, bảo: “Con vật này không thể để lại nữa, con hãy mở lòng lành, tìm cách giải thoát cho nó đi.” Ý tứ bảo chú tiểu tìm nơi giết con mèo già, hơn nữa còn dặn dò làm cho gọn gàng trước rạng sáng ngày hôm sau, xác mèo có thể côn trong khu rừng rậm sau núi.

Chú tiểu quét chùa giật nảy mình, nghĩ bụng, sư phụ xưa nay bản tính từ bi, tâm luôn hướng thiện, mà sao hôm nay lại như thế? Con mèo già đó tuy dơ dáy nhưng chưa từng gây ra tai họa gì, người xuất gia kỵ nhất là sát sinh, ta làm sao xuống tay được đây? Chú tiểu định hỏi cho rõ thì hòa thượng Đàm Chân đã nhắm mắt nhập định.

Lệnh thầy khó cãi, chú tiểu không dám nhiều lời trèo lên tường bắt con mèo già xuống, định bóp chết hoặc lấy gậy đánh chết nó nhưng không thể xuống tay được. Cuối cùng, nghĩ đi nghĩ lại, chú tiểu đem con mèo đến bên ao phóng sinh, định ném nó xuống nước cho chết đuối, ngần ngừ một lúc lâu cũng không dám xuống tay. Chú tiểu là người trong sáng, đến con kiến cũng không nỡ giẫm, liền nghĩ ra một cách: “Nơi cửa Phật thanh tịnh, làm sao dung việc sát sinh?”, liền ngầm đem con mèo ra ngoài chùa thả. Thấy nó đi xa, chú tiểu mới quay về phục mệnh.

Nhập định xong, hòa thượng Đàm Chân gọi chú tiểu lại Phật đường, hỏi chuyện con mèo già. Chú tiểu nói dối là đã dìm chết con mèo ở Bỉ Lôi đường. Hòa thượng Đàm Chân mắng: “Kẻ xuất gia không được nói dối, trước mặt Phật tổ mà ngươi dám mở miệng nói xằng thế ư?”

Chú tiểu sợ quá, vội khấu đầu trước tượng Phật xưng tội. Đàm Chân pháp sư nói: “Ngươi mau bắt con mèo đó về đây, trước khi trời sáng nếu không xử lý được nó, sư đồ chúng ta đều sẽ phải gánh thêm nghiệp chướng… “

Nói rồi, đại sư liền niệm bốn câu kệ rằng: “Thế gian vạn vật tàng nhân quả; Biển lớn bèo trôi cũng ngẫu nhiên; Sống chết đi về người chớ oán; Thân này khoảnh khắc sẽ tan liền.”

Muốn biết chuyện sau ra sao, đợi hạ hồi phân giải.
Hồi thứ 4: Trẻ Con Loạn Nhà
Lại nói, chú tiểu quét chùa lĩnh pháp chỉ, vội vã ra khỏi sơn môn, cứ thế đi tìm đến quá nửa đêm mới thấy con mèo già lở loét, liền ôm nó về Bỉ Lôi đường, than thở. “Đáng thương thay con nghiệt súc không biết gì! Chẳng hiểu mày đắc tội với lão thiền sư ra sao mà liên lụy đến cả tiểu tang. Hôm nay không thể không kết liễu tính mạng của mày, rồi ta sẽ tụng kinh siêu độ cho mày về Tây phương cực lạc… ” Đoạn chú tiểu nghiến răng ném con mèo xuống đầm cho chết, rồi vớt xác nó đem chôn vào khu rừng rậm phía sau núi, sau đó mới quay về chùa bẩm báo với Đàm Chân trưởng lão.

Thường có câu: “Nhập môn chớ hỏi điều hay dở, cứ xem sắc mặt biết ngay liền”. Đàm Chân trưởng lão trông thần sắc của chú tiểu, hiểu rằng đã xử lý ổn thỏa. Thấy trời đã sáng rõ, hòa thượng liền hỏi chú tiểu làm thế nào giết con mèo, lúc đó trời đã sáng chưa?
Chú tiểu quét chùa phạm sát giới, trong lòng rất hoảng hốt, nhớ lại lúc dìm con mèo già, dường như trời vừa mới hửng, cửa thành còn chưa mở, đứng trước mặt Đàm Chân trưởng lão, chú tiểu không dám giấu giếm điều gì, nhất nhất kể lại hết.
Đàm Chân trưởng lão nghe xong, lòng thầm nghĩ: “Đúng là ý trời, sức người không thể cưỡng cầu cho được.” Trước đó, vì thiền cơ không thể nói cho tỏ tường, khó nói thẳng với chú tiểu chân tướng mọi sự. Thì ra nhà Phật giảng lẽ tuần hoàn nhân quả, con mèo già lở loét đó tuy bị đọa trong súc sinh đạo nhưng cũng đã có đạo hạnh. Mỗi lần tăng nhân trong chùa Bỉ Lôi thắp hương tụng kinh, tiếng mõ cá vang lên, con mèo già lại theo âm thanh mà đến, nằm phục trên xà nhà trước điện lắng nghe kinh văn.
Đàm Chân trưởng lão dùng tuệ nhãn soi xét sự vật, biết rằng con mèo này có đạo cốt, không thành Phật được, song nhà Phật coi chúng sinh thảy như quyến thuộc, nó nghe kinh đã nhiều năm, trước sau cũng kết thành thiện quả, chỉ có điều phải đầu thai thành người ở chốn nhân gian, làm nên một số việc thì mới đắc đạo được. Đúng vào đêm hôm đó, trong thành Linh Châu, có một sản phụ lâm bồn, thai nhi lại xoay ngang, tính mệnh của sản phụ chỉ còn trong phút chốc, sắp sửa một thây hai mạng đến nơi. Bà đỡ và cả thầy lang sản lúc ấy đã bó tay không còn cách nào giúp được.
Người ngoài không hiểu gì, chỉ có Đàm Chân trưởng lão biết rõ, nếu con mèo này không chết thì sản phụ kia không đẻ được, thế nên sai chú tiểu kết liễu nó, nhưng không ngờ, trời xui đất khiến thế nào lại giết nhầm giờ, chỉ còn cách trông chờ vào số mệnh của con mèo già đó ra sao mà thôi.
Sáng sớm ngày hôm đó, quả nhiên có nhà Đàm viên ngoại mừng sinh được quý tử, đặt tên là “Bách Trung”. Đàm gia là nhà có truyền thống thư hương nổi tiếng thành Linh Châu, đến đời Đàm công tử thì lại độc đinh, nghìn mẫu ruộng chỉ còn mình chàng thừa kế. Chẳng ngờ tiểu công tử từ lúc sinh ra, toàn thân lở loét, danh y khắp nơi cũng không chữa trị được. Có điều, chàng từ nhỏ đã thông minh đỉnh ngộ, sách vở chỉ cần liếc qua là nhớ cả, từ bé đã có chí đi thi đoạt bảng vàng. Nhưng hiềm nỗi học tài thi phận, dẫu trong bụng có lời văn như gấm, chữ viết đẹp như phượng múa rồng bay, chàng vẫn không có số đậu khôi nguyên, lần nào đi thi cũng hỏng, may nhờ gia sản giàu có nên đường kinh kế mới không đáng lo.
Đàm công tử có một đam mê kỳ lạ, bình sinh rất thích nuôi mèo, các cuốn Miêu kinh, Miêu phổ thường xem chẳng rời tay, lại còn bỏ ra rất nhiều tiền bạc, mời người từ lưỡng Quảng về để xem tướng mèo. Mấy lần đều thi trượt khiến chí công danh của chàng dần nguội lạnh, về sau chỉ dành hết tinh thần sức lực vào việc nuôi mèo mà thôi. Chàng phá tán hết gia sản, cả ngày chỉ chơi đùa với đàn mèo.
Ở Linh Châu có truyền thuyết từ xa xưa về mèo già biết nói tiếng người, mà Đàm công tử hễ gặp mèo là hỏi: “Ngươi có biết nói không?” Thấy một con mèo hoang đi qua mái nhà, chàng cũng phải đuổi theo hỏi: “Lang quân trên mái xin ngừng bước, người có biết nói không?” Thế nhưng bất kể mèo nhà hay mèo hoang xưa nay đều chẳng buồn nheo mắt nhìn Đàm công tử lấy một lần. Những cử chỉ quái dị ấy của chàng khiến cho đầy tớ, láng giềng đều tưởng Đàm công tử bị bệnh điên không có thuốc chữa.

Một năm nọ, Đàm công tử tản bộ ở ngoại ô, gặp một con mèo hoang bốn tai hết sức hiếm thấy đang phì phò nằm ngủ trên chạc cây. Con mèo này toàn thân nồng nặc mùi rượu, dường như vừa mới uống trộm rượu ở đâu đó về, say nằm ở đây. Đàm công tử giỏi xem tướng mèo, vừa trông thấy đã biết con mèo này hết sức phi phàm, có lẽ là mèo tiên bốn tai hóa ra chứ chẳng chơi. Chàng thấy tò mò, liền ngồi xuống gốc cây định bụng xem cho rõ ràng. Tới lúc mặt trời xế bóng, con mèo bốn tai mới tỉnh hơi men. Chẳng thèm để ý đến Đàm công tử đang ngồi dưới gốc cây, nó ngáp một hơi rồi nhảy xuống, lắc mình, rồi đủng đỉnh bỏ đi.
Đàm công tử đi theo con mèo vào sâu trong núi, đi miết mười mấy năm trời, ai cũng cho rằng chàng đã chết từ lâu. Không ngờ, Đàm công tử gặp được kỳ duyên trong núi, nhưng rốt cuộc là chàng đã gặp phải chuyện gì thì rất ít người tỏ tường. Chỉ biết rằng, khi từ trong núi trở về, chàng thường dẫn theo mình một con mèo bốn tai, thường hay gọi bầy gọi bạn, tụ tập cả bầy mèo hoang lớn đi khắp nơi huyên náo, rao bán “Miêu nhi dược”, xưng rằng chữa được bách bệnh.
Người đời đa phần đều nghĩ chàng bị điên, làm gì có ai chịu uống loại thước lẩm cẩm ấy? Nhưng cũng có vài tên hành khất ăn xin bị ốm nặng không có tiền chữa bệnh, đành dùng thử loại Miêu nhi dược của chàng, dù sao cũng còn hơn nằm chờ chết. Chẳng ai ngờ, thuốc đến bệnh đi, chàng cứ thế cứu chữa được rất nhiều chứng nan y, cứu sống vô số người bệnh, từ đó tiếng tăm nổi như cồn, gần xa đều biết tiếng.
Rồi đến một năm nọ, thành Linh Châu gặp đợt hạn hán mấy trăm năm chưa từng có, đất đai nứt nẻ, sông suối cạn khô, đến nước giếng cũng gần như hết sạch. Dân chúng trong thành phải đào giếng sâu tới mười mấy trượng mà cũng chẳng có chút hơi ẩm, trên cao vầng dương đỏ rực nóng hầm hập, lửa độc bức xuống, chẳng đếm nổi bao nhiêu người nghèo phải chết khát. Nắng nóng khiến cho các tử thi thối rữa sinh ra dịch bệnh. Từ một vùng phồn hoa giàu có, trận hạn hán đã gần như biến nơi đây thành một tòa thành chết chóc.
Quan lại, dân chúng trong toàn thành đều tụ tập ở miếu Long vương cầu mưa. Ngôi miếu này tuy thờ Long vương của khắp tứ hải ngũ hồ, song không vị nào hiển linh ban mưa xuống. Lúc ấy, Đàm công tử mới đem con mèo bốn tai đến trước miếu Long vương, nói với mọi người rằng, trong xà gỗ của tòa đại điên miếu Long vương có một con “tằm lửa” hút hết khí nước trong mạch đất, nếu không phá hủy ngôi miếu này thì hạn hán sẽ không dứt được.
Quân dân Linh Châu tuy khao khát mưa xuống nhưng đời nào dám làm chuyện báng bộ thánh thần như thế. Lời của Đàm công tử khiến đám đông nổi giận, bị họ đuổi khỏi thành. Đêm hôm đó, miếu Long vương trong thành phát hỏa, bị ngọn lửa thiêu rụi không còn mảnh ngói. Có người trông thấy mấy con mèo hoang đẩy đổ chân đèn khiến miếu bắt lửa. Dân chúng ngờ rằng do Đàm công tử sai khiến, định bắt trói chàng giải đến nha môn hỏi tội. Chẳng ngờ, bỗng nghe ầm một cái, sấm chớp nổi lên, mây đen bốn bề kéo đến, một cơn móc ngọt từ trên trời đổ xuống.
Mọi người lúc ấy mới biết trận hạn này quả là từ miếu Long vương mà ra, lúc trước đã trách lầm người tốt. Từ đó về sau, ai nấy đều coi Đàm công tử như thần tiên. Người trong thành Linh Châu bất kể già trẻ trai gái, giàu nghèo sang hèn đều tranh nhau uống Miêu nhi dược của Đàm công tử để mong khỏe mạnh, sống lâu, gia đình bình an vô sự. Ngoài việc xem bệnh bốc thuốc, có người còn đến hỏi chàng về việc họa phúc, thường quẻ bói đã gieo ra là đúng. Vài năm sau, Đàm công tử đem con mèo bốn tai rời khỏi Linh Châu đi vân du, không biết về sau thế nào.

Bách tính Linh Châu đều bảo chàng đã đắc đạo thành tiên, liền xây dựng một ngôi đền trong thành để cúng dường bọn mèo khoang Linh Châu. Từ khi được xây dựng, Miêu Tiên từ hương lửa ngày càng thịnh vượng, mấy trăm năm không dứt, thường hiển hiện nhiều việc linh dị, tục sùng bái mèo ở địa phương này cũng theo đó mà rất thịnh, vì vậy, câu chuyện này đến nay vẫn còn lưu truyền lại. Việc cũ của Miêu Tiên, thực thực hư hư, hoang đường kỳ lạ, ít thấy trên đời, nghe tuy hay nhưng vị tất đã có thực. Trong truyền thuyết có đề cập đến cả “Nho, Thích, Đạo”, tao giáo lục chúng, công là do phong khí của người dân địa phương vốn thế.
Lão Thiết Trung hết sức tin vào câu chuyện. Lão chỉ vào sau trong ngõ, nói: “Hòe viên xây dựng trên nền đất của miếu Long vương khi xưa, vốn là một khu nhà ma. Các người đương đêm vào đó phải hết sức cẩn thận, chỉ mong Miêu Tiên gia hiển linh phù hộ cho các ngươi bình an vô sự. Ta già cả nhát gan, không tiễn các ngươi thêm được nữa, chúng ta từ biệt ở đây thôi.” Nói đoạn, lão đưa cái đèn lồng cho bọn Trương Tiển Biện, rồi lụi cụi quay người bỏ đi.
Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử đều là hạng lưu manh to gan, lại có chút thủ đoạn côn đồ, trong đầu toàn nghĩ vào trong Hòe viên là phát tài to, không thèm để tâm xem Thiết Trung nói gì, dẫn theo Tiểu Phượng và con mèo đen, giơ đèn lồng rảo bước đến thẳng trước cửa Hòe viên, lấy chìa khóa mở cửa. Chỉ thấy bên trong là một khu vườn rất lớn, cửa nẻo thâm nghiêm, đình đài liền nhau, tuy không phải là tiên phủ ở trên trời nhưng kể cũng là một nhà giàu có ở nhân gian.
Trong đêm đen, Hòe viên yên lặng u ám, ba bề bốn bên không một tiếng động, chỉ thấy dưới ánh trăng sáng, mặt đất trải một màu bàng bạc, đình đền đài tạ, hoa cỏ dưới ánh trăng toát lên vẻ thê lương, lạnh lẽo. Trương Tiểu Biện vào đến nơi này, trống ngực đập thình thịch, tự nhủ Lâm Trung Lão Quỷ chỉ bảo mang con mèo đen đến nhà ma là có thể đào lên núi vàng, núi bạc, còn các chi tiết khác lại không dặn dò gì. Không rõ rốt cuộc làm cách nào để lấy được cáo kho báu kia. Chuyến đi này là lành hay dữ còn phải trông vào số vận của Trương Tam gia ta nữa.
Thấy Hòe viên có rất nhiều đình đài lầu các, hắn không biết bắt tay từ đâu, đành mở gian chính ra bước vào. Nhưng bên trong mạng nhện giăng đầy, bụi phủ khắp nơi, đúng là lâu không có người qua lại. Các đồ đạc bài trí trong phòng đã bị khiêng đi sạch từ lâu, ba người tìm một góc, quét tước, lau dọc qua loa rồi ngồi xuống, chia nhau mấy mẫu lương khô còn lại, định lót dạ trước rồi mới xem xét tiếp các nơi trong khuôn viên.
Vất vả từ sáng tới giờ, cả ba đã đói lắm rồi, lúc đó cắm cúi ăn như thuồng luồng, không ai nói với ai câu nào. Đang ăn dở được một nửa chợt nghe tiếng trẻ khóc từ sau nhà vọng ra. Tiếng khóc thê lương cứ nổi lên từng chặp, lúc gần lúc xa. Con mèo đen rất cảnh giác, vốn đang cuộn tròn trên mặt đất, vừa nghe tiếng động, lập tức động đậy đôi tai soạt một cái đứng dậy, hai mắt vằn đỏ. Điệu bộ của nó như sắp có kẻ địch lớn, toát lên vẻ sợ hãi tột độ.
Trương Tiểu Biện nghe thấy rõ ràng, lại thêm một phen kinh hoảng, hắn vừa sợ hãi vừa thấy lạ, thiếu chút nữa chết nghẹn vì miếng lương khô. Hắn trợn mắt lên, khó khắn lắm mới nuốt được xuống, thầm chửi thứ âm thanh quái quỷ trong ngôi nhà vườn hoang phế này, lấy đâu ra trẻ con khóc nhỉ?

Tiếng khóc não ruột khiến Tiểu Phượng sợ hãi, hoảng hốt nói: “Chẳng lẽ trong căn nhà ma này có tiểu yêu tác quái ư?” Trương Tiểu Biện ôm con mèo đen lên, nói với Tiểu Phượng: “Sợ gì chứ? Tương truyền mèo đen, chó trắng có thể trừ tà. Dù là quỷ dữ gặp chúng cũng phải kiêng nể vài phần. Nghe tiếng khóc vừa rồi có gì đó cổ quái, biết đâu chừng vàng bạc chôn giấu trong vườn đã thành tinh rồi cũng nên.”
Tôn Đại Ma Tử nói: “Sở dĩ thế gian này có yêu ma quỷ quái, phần nhiều là do lòng người bất bình mà ra. Cái gọi là chính thắng tà tức là nếu trong lòng không có gì khuất tất thì dẫu rằng ma quỷ có thật cũng chẳng đáng sợ gì!” Vừa nói, gã vừa nắm chặt cây gậy trong tay, lấy thêm can đảm, lần về phía tiếng khóc ở đằng sau nhà.
Sau nhà là một vùng rừng cây hoang vu, trồng hàng trăm gốc hòe, nhưng nay quá nửa đã chết khô. Những chạc cây khô lởm chởm dưới ánh trăng như những bóng ma dữ tợn. Cả một vùng toàn là những lùm cỏ dại lúp xúp, tường rêu nứt nẻ, không có lấy một tiếng giun dế. Trong không gian chết chóc ấy, chỉ có tiếng khóc trẻ con vọng lại từ trong đám cỏ cây rậm rạp, lúc gần, lúc xa.
Thời xưa từng có rất nhiều truyền thuyết kể về việc bạc chôn dưới đất hóa thành yêu tinh. Bảo rằng, trong những viện lớn phủ to của các nhà giàu quyền quý, thường có chôn giấu các hố bạc hố vàng, đề phòng đời sau con cháu phá tán hết gia sản. Nhưng bạc vàng đó chôn dưới đất quá lâu, vật già sinh biến, liền hóa thành người đi tác quái, dân gian gọi là: “Ngân phách”. Trương Tiểu Biện bị tiền bạc làm cho mê muội, đoán chắc ấy là do trong nhà ma giấu bạc, chốn vườn hoang chôn vàng, lại cho rằng tiếng khóc đó nhất định là điềm của đóng vàng bạc chôn lâu ngày, liền giơ đèn lồng, rảo bước vạch cỏ vén cây, xăm xăm đi về phía lùm hòe rậm rạp.
Tôn Đại Ma Tử cũng là kẻ thô lỗ, không biết trời cao đất dày là gì, gã ỷ mình biết mấy đường quyền cước, liền xách gậy sánh vai cùng Trương Tiểu Biện tiến đến, định bụng “gậy đánh cho nguôi cơn thịnh nộ, côn vung để trợ sức thần uy”. Nào ngờ vừa phạt đám cây khô lá úa trước mặt, liền thấy trong lùm hòe có một căn lầu gỗ hai tầng, ngói biếc cột son, chạm trổ tinh xảo, nhưng cửa sổ và cửa ra vào không còn nguyên vẹn, lộ rõ vẻ hoang phế. Tiếng trẻ con khóc đúng là vọng lại từ bên trong căn lầu này.
Ba người dừng chân trước căn lầu, nghe tiếng khóc rất gần, trong lòng hồi hộp, cả ba vừa nghi ngại vừa sợ sệt, chưa quyết định có nên xông vào bên trong xem cho rõ không thì thấy trong chỗ góc lầu tối như mực, có từng đám trắng lóa nhúc nhích, đúng chỗ ấy lại không có ánh trăng nên không rõ là vật gì.
Có câu rằng, tiền làm hoa mắt, sắc khiến rối lòng, Trương Tiểu Biện kia mấy đời nghèo đói, trong đầu chỉ biết có mỗi chữ tiền, nào biết trong căn lầu này nguy hiểm ra sao, liền cất tiếng hỏi: “Cháu chắt nhà ai chết khổ chết sở mà cứ khóc um lên mãi thế?”, đoạn giơ ngọn đèn lồng rọi về phía trước. Dưới ánh đèn, cả ba đều nhìn thấy rõ sự thể. Không thấy thì thôi, vừa mới thấy liền tức tim đập chân run, đờ ra không biết trời đất trăng sao gì nữa.
Thì ra trong căn lầu tối đen như mực ấy nào có đâu Ngân tinh, Ngân phách, chỉ có một đứa bé béo trắng đang nằm sấp, ước chừng tám chín tháng tuổi, toàn thân trần truồng không mảnh vải, trên cổ còn đem một cái khóa bạc Trường mệnh để lấy khước. Thằng bé đang khóc hu hu, âm thanh nghẹn ngào trong cổ họng, vừa thấy ánh đèn chớp lên, nó lập tức chuyển từ buồn sang vui, phá lên cười “ha ha ha” một cái quái dị, rồi bò lại phía cửa lầu nhanh như một cơn gió, thoắt cái đã đến trước mặt ba người bọn Trương Tiểu Biện.

Có câu rằng: “Họ Lâu vườn cũ có ma, hiện lên đòi mạng canh ba đêm nay.” Muốn biết bọn Trương Tiểu Biện gặp phải nguy hiểm gì trong Hòe viên, đợi hồi sau sẽ rõ.
Hồi thứ 5: Lầu Đũa
Thường có câu: “Xưa nay người mất, hồn còn; huống chi những kẻ ngậm hờn thác oan”. Lại nói, đương lúc canh ba đêm đó, trong căn lầu côi ở Hòe viên, bò ra một đứa bé trai đầu gắn dây đỏ, cổ đeo khóa bạc, ba người bọn Trương Tiểu Biện sợ quá, trơ mắt há mồm đứng ngây tại chỗ, ba hồn bảy vía lên mây, không còn biết nên làm gì nữa.
Lúc ấy, con mèo đen như có linh cảm, đột nhiên kêu “meo, meo” mấy tiếng, đôi mắt mèo sáng rực lên trong đêm tối như đốm lửa. Đang đứng đờ đẫn, Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử nghe thấy tiếng mèo bên cạnh như tiếng sét ngang tai, lập tức giật mình hồi thần trở lại, nghĩ thầm, Hòe viên nhà họ Lâu đúng là một nơi nguy hiểm, nếu lúc ấy bị thằng nhỏ chết oan đó quấn vào, chỉ e cả đời này không thể ngóc đầu lên được.
Ở đất Linh Châu, tuy rằng mười dặm đã khác làng, năm dặm đã không chung tục, nhưng tục mèo đen trừ được tà ma thì đã có từ xưa, ai nấy đều biết. Trương Tiểu Biện nghĩ đến điều này, định ném con mèo đen ra ngăn lại, không làm thì thôi, đã làm thì phải dứt khoát, đây gọi là đánh trước thương lượng sau. Thế nhưng, chỉ thấy mắt hoa lên một cái, đứa trẻ trần trùng trục ấy bỗng tránh sang một bên, trong nháy mắt đã biến mất không còn tung tích. Sâu bên trong căn lầu tối đen như mực không trông thấy gì, chẳng rõ nó đã nấp vào đâu.
Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử vừa kinh hoàng vừa thấy lạ, chẳng hiểu là sự việc quái quỷ gì đang diễn ra, chẳng lẽ nơi này có ma quỷ thật? Song cả hai đều nhất quyết cho rằng, trong Hòe viên có chôn tiền bạc châu báu, đương khi cao hứng, cây muốn lặng nhưng gió chẳng dừng, làm sao chịu bỏ qua? Vậy là cả hai giơ cao ngọn đèn lồng, bấm bụng vào bên trong lầu thám thính đến cùng.
Tiểu Phượng không có cái gan liều mạng đó, thấy trong lầu có ma, cô ả đã rụng rời chân tay, cộng thêm cả ngày đã chịu đựng sợ hãi, lại chưa ăn được chút gì cho ra hồn, người đã hết sức yếu nhược, lập tức ngã lăn ra đất, bất tỉnh nhân sự.
Tôn Đại Ma Tử là người trượng nghĩa, thấy Tiểu Phượng ngã lăn ra bất tỉnh, vội quay lại đỡ, rối rít gọi Trương Tiểu Biện: “Tam đệ, cô ả Tiểu Phượng này sợ hãi quá ngất xỉu rồi, để mặc ở đây thì sẽ chết mất.”
Trương Tiểu Biện giậm chân chửi bới: “Mụ Vương quả phụ trốn chồng đẻ ra con giặc cái này, chuyên làm hỏng đại sự của Tam gia ta!” Nhưng, thấy Hòe viên âm u, lạnh lẽo, oán khí đầy trời, trong lòng hắn cũng không khỏi run sợ, một mình hắn thì có các vàng cũng không dám đi vào bên trong căn lầu, đành giúp Tôn Đại Ma Tử khiêng Tiểu Phượng chạy nhanh ra ngoài cổng.
Chẳng ngờ cả bọn như kiến bò chảo lửa, chạy một mạch không ngừng chân. Chỉ thấy đầy trời mây tối trăng lu, bốn phía gió âm rào rạt, trong Hòe viên hoang vu vắng lặng, cành khô lắc lư rào rạo, trong đêm khuya nghe như có vô số trẻ con nấp ở khắp nơi rền rĩ khóc. Khu vườn hoang nhà họ Lâu to lớn như thế nhưng không có nơi nào yên ổn, chỉ còn cách cướp đường chạy thẳng ra ngoài. Cả bọn trốn tới Miêu Tiên từ ở đầu đường mới dám ngừng chân.

Quá nửa đêm, trong ngôi đền cổ này thường có bầy mèo hoang tụ tập đông đúc. Bọn mèo hoang nằm trên xà, trên mái, tò mò theo dõi ba người khách không mời. Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử mỗi người một chân một tay đặt Tiểu Phượng lên bệ thờ phủ đầy bụi bặm, miết vào nhân trung, xoa bóp cho thông khí hoạt huyết, hì hụi một lúc mới cứu tỉnh được cô ả.
Sắc mặt Tiểu Phượng vẫn nhợt nhạt, vừa tỉnh dậy đã khóc: “Hai người bị mua đưa đường, quỷ dẫn lối hay sao? Khu nhà đó không biết đã xảy ra án mạng gì mà bao nhiêu âm hồn vẫn vất vưởng, không tan, để rồi hiện lên con ma hung ác như thế. Giờ giữ được mạng chạy ra là tốt rồi, nhất thiết chớ quay lại tìm vàng bạc châu báu làm gì.”
Tôn Đại Ma Tử nói: “Xem ra âm hồn ác quỷ là có thật, hơn nữa đứa bé đó chắc bị chết oan, chỉ e người nhà nó không biết sự tình, khiến nó đến nay cũng không siêu thoát được. Không biết chừng, bên trong có một cái án thiên cổ kỳ oan. Nếu đã để cho chúng ta nhìn thấy, nhất định là muốn chúng ta tìm ra lẽ phải trái hộ nó, làm sao có thể khoanh tay đứng nhìn được? Tiểu Phượng là đàn bà con gái, không cần phải đi vào chỗ nguy hiểm như thế, cứ ở lại đây chờ mỗ và Trương Tam đệ thăm dò một phen nữa cho rõ ngọn ngành coi sao.”
Trương Tiểu Biện tuy nhỏ hơn hai người kia một hai tuổi, nhưng xét về sự lọc lõi cơ trí, khả năng tùy cơ ứng biến thì hơn hẳn bọn đồng trang lứa, thường có những ý nghĩ tự tung tự tác mà vẫn tưởng là thông minh. Lúc ấy, hắn xem xét lại kỹ lưỡng sự tình, thấy trừ đứa bé trong căn lầu đó ra, Hòe viên dường như còn có rất nhiều tiếng ma trẻ con khóc đêm, sự việc không hề đơn giản. Nếu bảo trong nhà hoang co ma thì cũng hợp lý, nhưng trong đám hòe rậm rạp mà có nhiều trẻ chết đến như vậy thì rõ ràng có nhiều điều quái gở.
Theo lẽ thường mà nói, trẻ con loạn nhà là điềm gở, khiến nhà tan cửa nát, nhưng sự việc trong Hòe viên chắc còn nhiều khúc mắc. Từ thuở nhỏ, Trương Tiểu Biện đã theo một lão đạo sĩ đi vân du đoán quẻ, từng tai nghe mắt thấy nhiều chuyện khác thường, đồng thời hắn lại tin chắc mười mươi mình đã gặp được tiên nhân trong mộ Kim quan, đến nắm mơ cũng mơ thấy vớ được một món tiền bạc lớn trong Hòe viên này.
Linh Châu là một tòa thành cổ phồn hoa đã có lịch sử nghìn năm, từ xưa đã xuất hiện rất nhiều phú thương giàu có, xa hoa. Trong xã hội cũ, nhà giàu thường có thói quen chôn của, vì vậy có vô số truyền thuyết kể tiền chôn trong nhà cổ. Vàng bạc chôn lâu dưới đất có thể hóa thành yêu tinh, đến khi gặp được người có phúc phận, nó mới hiển linh, như thế gọi là vật về với chủ.
Nghe đồn vào những năm Vĩnh Lạc triều trước, trong thành Linh Châu cũng có một ngôi nhà hoang có ma. Một hôm mưa to gió lớn, có vị tú tài hỏng thi người ngoại tỉnh lạc đến, người này gia cảnh bần hàn, chẳng biết làm gì ngoài việc nhận viết thư thuê để mưu sinh. Một hôm trời đổ mưa to, tú tài nọ vô ý mới vào căn nhà ma ẩn trú. Tú tài mới đến đất này, tất nhiên không biết hay dở thế nào, thấy phòng ốc chỉn chu liền ở lại qua đêm.
Nào ngờ đến đêm, trong phòng bắt đầu có ma quậy phá. Ngọn nến đầu giường vô duyên vô cớ sáng lóe lên, một bầy trẻ con mặc quần áo trắng, cao không đầy một tấc xuyên qua khe cửa đi vào, gái có, trai có. Chúng tiền hô hậu ủng khiêng một cái quan tài bé tẹo, vừa gõ chiêng trống, vừa khóc lóc đi ngang qua đầu giường của vị tú tài.

Tú tài nọ thấy thế sợ đờ người ra, không rõ là quái vật gì, nằm nghiêng trên giường không dám động đậy. Bỗng thấy có một người tí hon trong đám hiếu đi đến đầu giường thì dừng chân ta hiệu cả bọn ngừng khóc. Chúng nhíu mày trợn mắt, đột nhiên xôn xao hẳn lên. Bên tai tú tài dường như nghe bọn chúng hỏi nhau: “Sao hôm nay trong phòng lại có thấy người sống nhỉ?”
Tú tài đang sợ rụng rời, bỗng thấy một người đàn bà tí hon mặc áo sô gai từ trong bọn chạy lại, tuy thân hình không tày gang nhưng hết sức xinh đẹp, thần thái kiều diễm, trang điểm tươi tắn. Nào ngờ, nó trèo lên giường, chẳng hỏi đầu đuôi gì đã lập tức chỉ vào mũi tú tài, mắng chửi toàn những lời lẽ thô tục, bẩn thỉu.
Tú tài vốn là thư sinh nhu nhược, đương không bị mắng như tát nước vào mặt nhưng cũng không dám cãi lại, chỉ cầu xin tha mạng. Bọn người lùn nọ đều xúm lại, mồm năm miệng mười chửi bới, bảo là, nơi nhà của thần tiên này đâu phải là chỗ cho bọn phàm phu tục tử mặc sức ra vào, nếu không ăn tươi nuốt sống tên này thì làm sao cho hết cơn tức.
Tú tài khổ sở van vỉ một hồi mới có kẻ cất tiếng: “Muốn sống mà về cũng không khó, có điều chủ nhân nhà chúng ta mới cưỡi hạc về trời, bây giờ đưa linh cữu tới đây, thằng khố rách áo ôm nhà ngươi mau đến trước quan tài rập đầu mấy cái, kêu khóc mấy câu nghe lọt tai. Nếu bà chủ nhà chúng ta mỉm cười tức là tha cho tính mạng, chỉ đánh cho một trận nên thân còn lại thì tạm giữ cái đầu trên cổ cho nhà ngươi.”
Tú tài thấy có đường sống, nào dám không tuân theo, lập tức đứng dậy đến trước cái quan tài bé tẹo, cung kính rập đầu, kêu: “Đại tiên gia gia”.
Bọn người lùn mặc áo sô dường như muốn gây khó dễ, lắc đầu lia lịa, nói: “Nhà ta vốn là thần tiên. Xưng hô là đại tiên tuy cũng tôn quý, nhưng nhàm quá, không mới mẻ gì.”
Tú tài chỉ sợ chúng hối lại sẽ ăn tươi nuốt sống mình, liền vội đổi giọng vái rằng: “Trước linh cữu của hiền đại vương, xin nhận của tiểu nhân một lạy.”
Đám lùn lập tức nổi giận: “Không được gọi là đại vương, đại vương không tôn quý bằng đại tiên, thằng khố rách áo ôm này dám khinh chúng tao không biết gì phải không?”
Đúng là: “Vận hết hầu khinh chủ; Số xui quỷ nạt người.” Tú tài nọ nhẫn nhục chịu chì chiết, lăng nhục mà không dám phản ứng lại nửa lời, đành van vỉ: “Liệt vị đại tiên gia thứ tội, tiểu nhân thực không nghĩ ra cách xưng hô thế nào, chẳng lẽ… chẳng lẽ gọi là Vạn tuế gia mới hợp ý?”
Đám người lùn hung ác vẫn léo nhéo không thôi, tranh nhau nói: “Vạn tuế gia là cách xưng hô với Hoàng thượng, chúng ta là hàng tiên, không thích danh hiệu của đám quân vương trần thế. Xem ra, nhà ngươi không phải là thằng mọt sách hết thuốc cứu chữa, bây giờ để chúng ta dạy bảo ngươi một phen, ngươi cứ tôn chủ nhân nhà ta là Chí Thánh Chí Hiền lão phu tử là được rồi.”
Tới lúc này, đến lượt tú tài nổi giận. Gã đọc sách nhiều tới mức hủ lậu, chẳng cần biết thời thế, trên dưới thế nào, mà chỉ biết tôn sư trọng đạo, coi sách thánh hiền quý hơn cả tính mạng của bản thân, rập đầu van xin tha mạng cũng được, nhưng bầy yêu quái mà dám vọng ngôn đòi ngang hàng với thánh hiền của đạo Nho ư? Gã nghe thấy thế, lập tức đùng đùng nổi giận, trong lòng tức tối, đứng phắt dậy, rút một chiếc giày trỏ vào mắng: “Cha tiên nhân chúng bay, dám sỉ nhục đạo Nho ta!” Vừa mắng chửi, gã vừa cầm giày vụt tới tấp vào đám yêu quái nọ, đuổi dạt cả ra, đến đứa được gọi là bà chủ cũng bị đập nát thành một đống thịt.”

Bọn lùn đưa đám thất sắc, vội vã kéo nhau chạy qua khe cửa ra ngoài. Thật là: “Cứ tưởng thật thà thì dễ dọa, đến khi họ tức, gớm chừng nào”. Vị tú tài giận lắm, như giao long gặp mưa, như hổ báo giương nanh, lao như điên đuổi theo đánh, chạy đến gian bếp thì thấy đám lùn đều chui vào khe nứt trên chum nước rồi biến mất.
Tú tài đang lúc hăng tiết, liền thuận thế đập tan chum nước, thấy ở đáy chum đã bị thủng, bên trong chẳng có vật gì nhưng liền ở dưới là một cái hố, trong hố toàn là vàng ròng. Gã quay lại gian phòng ngủ lúc nãy, thấy cũng có nhiều vàng bạc vung vãi, mới vỡ lẽ thì ra hồn phách của vàng bạc đã hóa thành yêu tinh giở trò trêu ghẹo. Gã nhớ lời Khổng Tử nói: “Vật già hóa quái”, trước đây vẫn thấy khó hiểu, giờ mới biết thì ra đúng là có chuyện như thế thật. Xem ra người xưa nói thực cấm có sai, cũng bởi mệnh gã có số giàu sang, coi như là vật gặp được chủ, cuối cùng nhờ vậy mà trở nên giàu có.
Câu chuyện này lưu truyền rộng rãi trong thành Linh Châu. Lúc ấy, Trương Tiển Biện mới kể chuyện này ra, và quả quyết, những hiện tượng quái dị trong Hòe viên quá bán là cùng một dạng như thế, có lẽ cũng đang chôn giấu một kho báu gì đó, chỉ có điều không biết là loại kỳ trân dị bảo gì mà hóa thành hình hài một đứa bé xuất hiện trong đêm tối, nếu không mau đào nó lên chỉ e sớm muộn sẽ biến thành tiên thành quỷ, không thể tìm thấy nữa.
Tôn Đại Ma Tử vốn nóng nảy, chỉ hận không thể lập tức tìm ngay ra chân tướng, Trương Tiểu Biện lại càng sốt ruột không chờ được đến sáng. Cả hai đều nghĩ, Tiểu Phượng là đứa trời sinh ra đã có mệnh nghèo hèn, phận mỏng không dung nạp được món tiền to, liền để cô ả ở lại một mình trong miếu, sau đó chuẩn bị đèn đuốc, bắt theo con mèo Kim tuyến miêu đang chơi đùa với đám mèo hoang, hai người một mèo trở lại Hòe viên đào kho báu.
Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử quyết tâm vứt hết mọi nghi ngại sang một bên. Tính rằng đã sắp canh tư, tới sáng sẽ bị Thiết chưởng quầy đến thu chìa khóa, không thể chần chừ thêm được nữa, đúng là “lòng vội như tên bắn, chân nhanh tựa gió bay”, hai người chạy thẳng tới cửa Hòe viên, theo lối cũ tìm đến căn lầu vắng trong đám cỏ cây rậm rạp đằng sau nhà. Căn lầu lúc ấy im ắng chẳng thấy bóng ai.
Hai người, một trước một sau giơ đèn mò vào, thấy dưới chân khác lạ dường như có vật gì đó cộm lên, liền soi đèn nhìn thử, hóa ra trong phòng vương vãi rất nhiều đũa. Đám đũa nằm ngổn ngang, cũ có, mới có, chẳng chiếc nào giống chiếc nào, mà đến tìm cho đủ một đôi cũng khó. Có chiếc thô ráp giản đơn mà nhà bình dân sử dụng, cũng có chiếc đẹp đẽ cầu kỳ của những nhà giàu ngang một nước, chỉ nhìn thoáng qua đã thấy sừng tê, gỗ mun, tre, ngà voi, vàng bạc… đủ thứ chất liệu khác nhau.
Trương Tiểu Biện sinh nghi, sao trong Hòe viên lại ngổn ngang vung vãi hàng trăm loại đũa thế này? Nhất thời hắn cũng không sao hiểu nổi, chỉ ngầm thấy có điều không hay, liền giơ đèn soi xung quanh. Ngay lúc ấy, phía sau chợt vang lên tiếng khóc trẻ con, Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử hoàn toàn bất ngờ, không khỏi có chút kinh hoàng, vội quay người về phía phát ra thứ âm thanh đó, vừa nhìn thì lại càng thêm kinh ngạc. Hóa ra ở góc sau cửa có một cái hang, thò tay lại gần thăm dò, chỉ thấy từng trận gió âm ù ù ập tới, tiếng khóc từng đợt chính là vẳng ra từ trong hang này.

Trương Tiểu Biện ôm chặt con mèo đen ghé người sát cửa hang nhìn xuống. Căn lầu này tối om như mực, nếu không lại gần chắc hẳn khó phát hiện ra phía sau cửa có một cái hang. Con mèo đen đến cửa hang bỗng lộ vẻ bất an, lông tơ trên đuôi xù cả lên, kêu “ngao ngao”, định tụt xuống bỏ chạy. Hai tên Trương, Tôn không lưu ý đến điều đó, ngược lại còn nghĩ: “Thằng nhỏ ở truồng lúc nãy có thể đã chui vào hang đất rồi, không rõ chỗ này là chỗ nào?” rồi lại nghĩ: “Nam nhi nếu không có chí làm giàu thì uổng cho tấm thân bảy thước. Giờ thì không nói gò được nữa, dù đây là quỹ điện của Sâm La Địa phủ cũng phải vào xem thử một chuyến rồi mới tính sau.”
Hai kẻ nghèo đói bọn Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử, ngờ rằng rừng vàng biển bạc đã ở ngay trước mặt, khác nào ruồi nghe hơi mật, lòng nóng như lửa đốt, còn chuyện gì mà không dám làm nữa? Hai chữ “sinh tử” đã sớm bỏ khỏi đầu, cả hai lập tức lần theo tiếng khóc, giơ ngọn đèn đi vào trong hang, mà chẳng hề hay biết chuyến đi này lại là: “Nộp mình đến cửa hung thần, Miệng hùm hang cọp đem thân gieo vào”.
Muốn biết sự thể ra sao, xin chờ hạ hồi phân giải.
Hồi thứ 6: Mắt Mèo
Tiếp theo hồi trước, nói đến đoạn Trương Tiến Điện và Tôn Đại Ma Tử là hai tên tiểu tử, … . Xưa nay không biết trời cao đất dày là gì. Hai gã thấy dưới sàn trong lầu có một cái hang tối om, bèn cho rằng đó là một đường ngầm dẫn đến một mật thất nơi chôn dấu kho báu trong Hòe viên, liền không kìm được sự sung sướng trong lòng, nào còn đắn đo gì nữa, tức khắc một tên đi trước, một tên đi sau, giơ đèn chui tọt vào trong. Dưới hang quả nhiên là một đường hầm rộng rãi quanh co, ngập đầy bùn và đất bùn và đất vụn, lại có vô số hang lớn nhỏ đan xen, vách hang lồi lõm, lối đi lúc cao lúc thấp, thoắt rộng thoắt hẹp, đào rất qua loa, không thành lề lối gì cả. Trương Tiểu Biện thấy bên dưới Hòe viên có một mê cung như thế, thầm lắc đầu lè lưỡi, hạ giọng nói với Tôn Đại Ma Tử: “Chắc hẳn kho báu bên dưới nhà họ Lâu này bị chôn lâu quá đã thành tinh rồi, nên mới hóa thành thằng nhóc ở truồng chạy vào đây. Nghe lão sĩ thầy ta nói rẻ cấu kỷ tử nghìn năm có thể hóa thành con chó nhỏ, củ nhân sâm một vạn năm có thể hóa thành người con gái, không biết rốt cuộc có Hòe viện này chôn vật quý hiếm gì mà kinh dị như thế? Gía như để huynh đệ chúng ta tìm được, ta với ngươi lại trở thành Đặng Thông và Thẩm Vạn Tam của thành Linh Châu ấy chứ.” Tôn Đại Ma Tử cả mừng, nói: “Đặng Thông và Thẩm Vạn Tam giỏi lắm đấy nhé. Mỗ ta thường nghe nói hai người bọn họ xưa kia giàu phú gia địch quốc, là những người giàu có nghiêng ngửa thiên hạ, bốn phương đều nghe danh. Chúng ta chỉ cần bằng một nửa của Thẩm lão gia, ngày nào cũng có gà nướng, chân giò để ăn, thế cũng mãn nguyện rồi.” Trương Tiểu Biện cười , bảo: “Ma Tử huynh thật thiển cận chỉ biết mỗi việc ăn chân gà nướng với gặm chân giò. Chúng ta mà có một nửa gia sản của Thẩm Vạn Tam , dù cho huynh ngày nào cũng ăn gan rồng mật phượng cũng không hết nữa là.” Tôn Đại Ma Tử một chữ bẻ đôi không biết , nhưng thường ngày gã và Trương Tiểu Biện vẫn thích đi nghe nhà trò diễn tích kể chuyện, lúc rỗi rãi gã còn ngâm nga mấy câu, thuộc nằm lòng các khúc dân ca. Hồi ấy, trong các tích trò diễn ở địa phương, có một vở gọi là “Chiêu tài tiến bảo” khá rộn rã tươi vui, kể chuyện thần tài giáng trần ở các triều đại. Mỗi khi tết đến hoặc có hội vui , hay những dịp cần điềm lành người ta đều mời gánh hát đến diễn vở này. Đặng Thông là người đời Hán, từng được Hoàng đế ban thưởng cho một mô đồng, tự mình có thể khai đúc tiền nên mới có câu: “khắp nơitiền rải lanh canh biết bao được đúc từ Thành Đặng Thông”, thành ấy chính là nơi người này đúc tiền. Thẩm Vạn Tâm là cự phú ở Giang Nam vào thời cuối Nguyên đầu Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương khi khai đô kiến quốc phải mượn Thẩm lão gia tiền để xây thành là một đại tài chủ giàu giang cả nước. Hai vị đó được dân chúng xem như thần Tài đầu thai hạ phàm, nếu nói theo kiểu của người ngày nay, thì đã được coi là thần tượng về việc phát tài làm giàu rồi. Bởi thế, dù là hạng cùng đinh mạt rệp không cửa không nhà như Tôn Đại Ma Tử và Trương Tiểu Biện cũng thuộc nằm lòng những sự tích của hai ông Đăng, Thẩm trong các vở kịch, câu chuyện kể. Hai gã đến nằm mơ cũng tưởng tượng sẽ có lúc được giàu có như thế mà chẳng hề biết rằng, Đặng Thông và Thẩm Vạn Tam về sau đều không có kết cục tốt đẹp. Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử niệm mấy lượt: ” Miêu Tiên gia và các vị Tài thần lão gia phù hộ cho đệ tử được đại phú quý… “, sau đó liền hăm hở đi tìm của. Chẳng ngờ trong đường ngầm dưới nền căn lầu, cửa hang nhiều tới mức hoa mắt chóng mặt, nhất thời không biết nên đi theo lối nào. Cả con đường khi lưỡng lự, chợt nghe văng vẳng tiếng khóc ở xa xa. Hai người vừa nghe thấy động tĩnh, vội rùn người đi tiếp, lần theo tiếng khóc mà tiến lên. Trương Tiểu Biện tuy bị tiền bạc làm mờ mắt nhưng dầu sao cũng là một tay lão luyện trong nghề bắt gà trộm chó cũng có chút cơ tri và kiến thức của bọn trộm cướp, hiểu rõ cần phải trả lại cho mình một lối thoát thân. Hắn thấy đường ngầm dưới Hòe viên rất chằng chịt phức tạp liền bỏ con mèo đen vào lòng, bảo Tôn Đại Ma Tử treo đèn vào đoản côn đi trước, hắn ở đằng sau, dùng tay và đầu gối bò trên đất, vừa bò vừa nhặt đũa xếp rồng rắn thành chữ nhất để đánh dấu đường phòng trường hợp không tìm được đường ra, phải chết kẹt dưới long đất. Con mèo đen vốn nhát gan, không biết bị cài gì dọa đến nỗi run lên cầm cập, dường như dự cảm được có tai họa sắp giáng xuống. Nó cuộn tròn trong lòng Trương Tiểu Biện không kêu một tiếng nào, chỉ để lộ ra đôi mắt sáng sợ sệt nhìn xung quanh. Trương Tiểu Biện thầm rủa con mèo đổi về từ hiệu thuốc nay vô dụng. ” Vân vật thông tài” miêu tả về mọi loài sinh linh trên thế gian, trong đó viết về loài mèo có Miêu phổ, viết về chó có Khuyển kinh, trong cuốn Miêu phổ ghi rất rõ ràng rằng, Linh Chau thời cổ sản sinh ra loại mèo đen rất quý, tên là: “Nguyệt ảnh ở đồng kim tuyến miêu”. Loại mèo đen này có một đường kim tuyến chạy dọc mình, có thể đảo ngói trèo tường, rất giỏi vồ chim bắt bướm, mà cũng có thể lần mò vào nhà trộm vàng lấy ngọc. Trong lúc hành động, giống mèo này thoăn thoắt như gió, giữa ban ngày ban mặt có thể đi lại giữa chốn đông người mà chỉ trông thấy bóng không thấy hình. Nhưng phong tục cúng Miêu Tiên ở thành Linh Châu đã có từ lâu, vì vậy đám mèo ở đất này dù là mèo nhà hay mèo hoang đều vừa tham vừa lười. Con mèo khoang mà Trương Tiêu Biện mất bao công sức mới tìm được này, đích thị là một con mèo lười rõ mười mươi. Tuy nó đúng là giống Nguyệt ảnh ở đồng kim tuyến miêu thuần chủng, nhưng bản lĩnh mà tổ tiên nó nổi danh với đời từ mấy trăm năm trước, đến đời nó thì đã thất truyền lâu rồi, chỉ mỗi trò trèo cây bắt cây sẻ là còn giữ được đôi phần mà thôi. Trương Tiểu Biện còn nhớ mấy hôm trước trong mộ Kim quan của Quý phi, Lâm Trung Lão Quỷ từng căn dặn rằng: ” Nhà người muốn vào nhà ma Hòe viên để lấy kho của thì trước tiên phải đến Tùng Hạc đường. đem cương thi mỹ nhân đổi lấy con Nguyệt ảnh ở đông kim tuyến miêu nhà đó đang nuôi. Không có con mèo ấy tương trợ sức, ngươi đừng hòng lấy được một đồng một cắc trong núi bạc núi vàng ở Hòe viên. Nhớ lấy! Nhớ lấy!” Những lời ấy được Trương Tiểu Biện coi như thánh chỉ, nhớ như in trong đầu, trong mơ cũng không quên lẩm nhẩm lại. Bây giờ,cả mèo đen lẫn đường ngầm trong Hòe viên đều tìm ra rồi, nhưng hồi đó, Lâm Trung Lão Quý lại không chỉ rõ cho hắn xem rốt cuộc phải dùng con mèo đen ấy tìm kho báu như thế nào. Trương Tiểu Biện nghĩ bụng, thiên cơ bất khả lộ, tức là đầu gặp được thần tiên chỉ lối, thì con đường mà họ chỉ cho người phàm đa phần cũng đều mờ mờ ảo ảo, còn phải dựa vào sự tham ngộ của bản thân, phá giải mới lĩnh hội được. Dù sao kiến thức cũng hạn hẹp, mấy ngày liền vò đầu bứt tai cũng chỉ đoán ra đại khái là dùng “mắt mèo” của con mèo đen để khắc yêu trừ tà. Con mèo này tuy lười nhác nhưng lúc lấy của báu chưa chắc đã không có đất cho nó dụng võ trước mắt còn chưa biết trong lòng đất này rốt cuộc chôn dấu thứ gì, đương nhiên hắn không thể dễ dàng để cho nó chạy trở ra. Hắn nghĩ ngợi lung tung một hồi, đi được mấy trượng trong đường hầm hẹp, bỗng nghe phía trước có tiếng nước chảy khẽ vang đến. Tôn Đại Ma Tử cũng đứng lại, thì ra tuy đường đi trong hang càng lúc càng rộng, dẫn tới một không gian khá lớn, nhưng trước mặt hai gã lại có một con sông ngầm chắn ngang. Trong Hòe viên có rất nhiều cảnh trí đẹp đẽ như đình lang thủy tạ, lâu đài điện gác. Tới nay, những cái ao, con suối trong vườn tuy khô cạn nhưng mạch nước ngầm trong lòng đất vẫn còn, tiếng trẻ con khác hu hu chính là vọng lên từ bóng tối phía bên kia sông. Hai bên bờ sông ngầm trong hang động dưới lòng đất, gió âm vù vù lạnh buốt, tiếng trẻ khóc văng vẳng dường như không xa lắm. Trương Tiểu Biện lớn ngần này tuổi nhưng chưa từng nghe thấy tiếng khóc nào thê lương đến thế, khóc tưởng như cổ họng rỉ máu. Hắn không khỏi rùng mình, tự úy lạo tinh thần, hướng về phía bóng tối mắng rằng: ” Tổ tông mười tám đời nhà chúng mày đã nghe đến tên Tương Tam già Trương to gan ta chưa? Cái bọn Kim tinh Ngân phách chúng bay cũng có mấy phần đạo hạnh, biết hôm nay sớm muộn gì cũng bị Tam gia đào mang về, mới nấp ở trong tối khóc thần gọi quỷ, dọa người ta hả. Chúng bay biết đâu rằng Trương Tam gia nhà các ngươi ăn gan hùm mật sói, sợ quái gì mấy trò đó.”Nói xong, hắn thò tay cấu vào đuôi con mèo đen trong lòng, định bắt nó gào lên mấy tiếng dọa bọn yêu tinh do vàng bạc hóa ra kia phải hiện nguyên hình. Tôn Đại Ma Tử là người chính trực, không chịu được cảnh bất bình trong thiên hạ, nghe tiếng khóc rỏ máu kia, cảm thấy rất đỗi đáng thương, không giống như tiếng khóc để dọa dẫm người khác, liền ngăn Trương Tiểu Biện lại, nói: “Không phải rồi! Tam đệ nghe kỹ xem, đây rõ ràng là tiếng khóc của trẻ con, chẳng lẽ nào chuyện hỗn phách kêu oan là có thật? Có phải muốn nhờ bọn ta rửa oan kiếp trước cho nó không..” Trương Tiểu Biện nói: “Trẻ con một hai tuổi ranh thì có oan tình gì? Chắc hẳn là đống châu báu hấp thụ linh khí ngũ hành trong trời đất, ẩn ở dưới đất hàng trăm, hàng nghìn năm mới luyện thành hình hài đứa trẻ con,. Lúc này, nhân đạo hạnh của chúng chưa cao, chỉ mới biết khóc, biết bò thôi, vừa hay có thể bắt lấy đổi sự giàu sang phú quý, nếu để muộn mấy năm nữa, để nó đắc đạo, làm sao tìm ra tung tích được?” Tôn Đại Ma Tử lắc đầu không tin: “Có lẽ đứa trẻ này bịn nười ta bỏ đói đến chết trong hang động… ” Gã ngẫm nghĩ thêm, thấy không đúng lại nói: ” Nhưng trên cổ nó có khóa bạc, cũng không giống như con nhà nghèo. Chắc hẳn là có kẻ gian lập mưu cướp gia sản nên bắt cóc nó tới đây rồi giết, vì thế trong lòng nó mới đầy oán hận. Chẳng ngờ dưới gầm trời này còn có chuyện vô đạo như thế thực khiến người ta tức nổ lồng ngực. Nói thế nào thì nói, hai huynh đệ chúng ta tuyệt đối không thể khoanh tay đứng nhìn” Gã vốn là người lỗ mãng, không tin chuyện ma quỷ, thường tự cho mình là: “Người ngay lo gì bóng lệch, chân thẳng chẳng sợ giày nghiêng”, hơn nữa rất tin cái lý: “không làm việc xấu hại người, nửa đêm nào sợ quỷ đòi kêu oan”, vì vậy xưa nay không sợ gì quỷ quái. Lúc này, gã lại nổi tính lỗ mãng, bộ mặt sần sùi bạnh ra, nằng nặc cho rằng tiếng khóc của đứa bé đó chính là lời kêu oan tố khổ của vong hồn. Trương Tiểu Biện tuy lanh mồm lanh miệng nhưng cũng không thuyết phục được gã, đành thì thầm: ” Cho dù nó có là yêu ma hay quỷ quái, hay là vật gì thành tinh. Cứ đến nơi mới trông rõ được, mất thời gian tranh cãi với thằng em ngốc này thì có ích gì?” Nghĩ đoạn hắn liền không nói thêm gì nữa, tháy dòng sông ngầm khó vượt qua hai gã đành nghĩ cách đi đường vòng. Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Mà Tử tính tìm một khúc sông hẹp để nhảy qua, bèn men theo bờ sông mà tiến, đi được mấy trượng, liền cảm thấy đũa dưới chân càng nhiều, soi đèn nhìn xung quanh, thấy trên mặt đất mấp mô cũng cương vãi rất nhiều đũa. Đũa tre, đũa gỗ đều là những vật gia dụng hết sức tầm thường. Tầm thường tới mức nào đây? Lấy một vó dụ thế này. Có tên phi tặc đã vào hàng trăm nhà phú hộ đào tường khoét vách, một hôm trót vào nhầm nhà nghèo, thấy bốn vách trống trơn, trong chum không gạo, chẳng có gì để ăn trộm, nhưng tôn chỉ ” trộm không về tay không” thì không thể phá bỏ, vậy là đành phải rút mấy sợi rơm nhóm lò rồi đi. Đến mức như thế là cảnh “thượng lương quân tử” cũng tuyệt nhiên không lấy đi cái đũa nào trong chạn, vì lẽ rơm khô còn có thể giữ ấm được, thậm chí nếu có nhiều thì còn đổi được ít tiền bạc, chứ ai lại bỏ tiền ra mua mấy cái đũa cũ nát của người nghèo đã dùng nhiều năm. Những chiếc đũa trong động mỗi cái một vẻ , hiển nhiên không phải vật của cùng một nhà, nằm ngổn ngang dễ phải đến hàng nghìn, hàng vạn cái, ai ăn no rửng mỡ đem từng ấy đũa đến hang động dưới đất này? Trương Tiểu Biện nghĩ muốn vỡ đầu cũng đoán không ra lẽ gì, dành biết để đấy. Hắn lại đi lên mấy bước thăm dò, thấy sâu trong động, trên mặt nước, có một cây cầu bắc ngang. Cây cầu đó hoàn toàn dùng đũa ghép lại, tuy những chiếc đũa dài ngắn khác nhau, có mới có cũ mà chất liệu cũng khác, nhưng được gắn rất bằng phẳng kiên cố. Mặt cầu hình cung, rộng không đầy hai thước. Giơ đèn lồng soi phía đối diện của cây cầu đũa, thấy trong bóng tối hiện ra một tòa thành, đều ghép từ những chiếc đũa lại, trông rất ngợp mắt, nhưng cũng ra hình ra dáng. Thành cũng có cửa, có lầu gác, trên địch lâu còn trổ hơn mười lỗ châu mai để quan sát địch, hai bên đều là tường thành ghép bởi vô số chiếc đũa. Tòa thành đũa và mấy cây cầu đũa phia trước thành đều nhỏ bó hơn nhiều so với ngoài đời thực. Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử nín thở bước trên cầu đũa, miễn cưỡng qua được sông, nhưng tới dưới lầu thành mới phát hiện ra cửa thành không có dành cho người ra vào, chỉ nhỉnh hơn cái lỗ chó chui một chút mà thôi. Cổng tòa thành xây bằng những chiếc đũa ấy mở rộng, bên trong xộc ra một làn gió tanh, hơi thôid xông lên đến tận đầu. Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử vội vã xé vạt áo nút mũi lại, nín thở, xem tiếp xuống dưới chân lầu thành thì thấy xương vụn rải đầy mặt đất, bị gặm đến nát bét, trắng huếch hoác chẳng chừa lại chút da thịt nào, không rõ là xương người hay xương thú. Hai người lấy làm kinh hãi: “Rốt cuộc bên dưới Hòe viện nhà họ Lâu có cái gì? Sao lại có tòa thành kỳ quái này? Ai ở trong tòa thành bằng đũa?” Chuyện này hoàn toàn nằm ngoài sức tưởng tượng Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử tuy to gan nhưng cũng không dám tùy tiện làm bừa, hai gã nín thở, bò xuống trước cửa thành, ghé mắt nhìn vào trong. Chỉ thấy đèn đuốc trong thành sáng rực, nhà cửa phòng ốc san sát, đều do những cây đũa nhiều màu sắc ghép lại, đường phố im lìm vừa rộng vừa sâu, nhưng tất cả phòng ốc lầu gác đều bé tý tẹo, tuy giống hệt nhân gian nhưng chỉ có mèo mới ở được. Tiếng khóc “oa oa” của đứa trẻ liên tục vọng từ bên trong ra. Tiếng khóc bất thường toát lên vẻ tà mị khó hiểu khiến hai người và con mèo sợ đến nổi da gà. Tình cảnh trong thành này thực hết sức kỳ quái. Đúng là: “nghe thấy, anh hùng đều vỡ mật. Nhìn vào, tráng sĩ thấy run gan. ” Muốn biết chuyện sẽ thế nào, xem hồi sau sẽ rõ.

Hồi thứ 7: Hầm Người Sống

Hồi trước nói đến đoạn Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử hai người đang đêm vào địa đạo bên dưới Hòe viên, phát hiện ra trong hang sâu có một tòa thành toàn ghép từ những chiếc đũa. Hai gã kinh hãi khôn xiết, liền lấy áo che mũi, khom lưng, quỳ trước cổng thành Đũa, ghé mắt quan sát động tĩnh bên trong thành.

Con mèo đen đang ủ rũ trong lòng Trương Tiểu Biện tuy nhát nhưng cũng tò mò thò đầu ra xem, cặp mắt mèo đảo lia lịa, cùng hai chủ nhân đánh giá tình hình bên trong thành đũa.

Cách bài trí phố xá, nhà cửa bên trong giống hệt thành Linh Châu, chỉ có điều kích thước nhỏ bé hơn nhiều, tựa như trẻ con chơi đồ hàng vậy. Không hiểu đã phải dùng đến bao nhiêu chiếc đũa của nhân gian mới ghép được òa thành Đũa như thế này.

Đường phố chợ búa trong thành đều thắp đèn sáng trưng, đầu đường cuối ngõ đốt khá nhiều nến. Trong ánh sáng lung linh chập chờn, trùng trùng điệp điệp lầu gác làm bằng đũa toát lên một vẻ âm u lạ thường, vô số chuột to chuột nhỏ đang leo lên, leo xuông giữa đám nhà cửa nhấp nhô.

Cũng bởi mèo khoang ở vùng này không bắt chuột nên nạn chuột trên địa bàn Linh Châu đã kéo dài gần trăm năm, khó diệt được tận gốc. Tuy bọn chuột vẫn thường dung dăng thoải mái trong thành Linh Châu nhưng vì thiên tính bẩm sinh nên vẫn sợ người, sợ mèo đôi chút. Nhưng đàn chuột lớn trong tòa thành này thì con nào con nấy đều lộ vẻ hung ác, không thèm để ý đến hai người và một mèo ở ngoài cổng thành. Rất nhiều con chuột to tướng còn táo tợn bò qua bò lại trước mặt Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử.

Trương Tiểu Biện nhìn mà thấy buồn nôn, vội giơ tay đuổi mấy con chuột to ở trước mặt thầm nghĩ : ” Đâu ra lắm chuột thế này, chẳng lẽ đã lọt vào sào huyệt của bọn chuột thành Linh Châu rồi ư?”

Thường có câu rằng: ” Không có lửa thì làm sao có khói”, ở nông thôn thường nghe kể rất nhiều truyền thuyết dân gian kể về đám cưới chuột, đám ma chuột, nhưng liệu đã có ai chính mắt trông thấy? Bọn chuột sao có thể hành động giống như con người được? Cứ nghĩ đến việc bầy chuột đã ăn trộm đũa của hàng nghìn nhà, xây dựng thành trì trong hang động, lại có thể bắt chước y hệt lối sinh sống của con người, Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử đều lạnh cả người, trong đầu chỉ có một ý nghĩ: có nhẽ đâu thế?

Trương Tiểu Biện thầm nghĩ, bây giờ đúng là thiên hạ đại loạn, chẳng lẽ bọn chuột cũng học tập Việt khấu khởi binh tạo phản… tự lập triều đình trong hang động này? Nhưng chuột chỉ là bọn giỏi phá kho trộm thóc, làm sao có trí tuệ để xây dựng thành trì được? Xem ra đây đúng là điềm chẳng lành, chẳng rõ sẽ có đại họa nào giáng xuống nữa. Trong thời loạn thì giữ mình là trên hết, Tam gia ta đánh một mẻ lớn, xong xuôi phải mau mau chóng chóng ôm tiền bạc cao chạy xa bay là tốt nhất.

Lúc ấy, Tôn Đại Ma Tử không cầm lòng nổi, kinh hãi kêu lên một tiếng, chỉ tay vào trong thành nói với Trương Tiểu Biện: ” Tam đệ mau, bọn chuột không chỉ ăn trộm đũa đâu, ngươi xem, ngươi xem… Chúng còn bắt trẻ con nữa. Lũ chuột cống này thành tinh rồi!”

Trương Tiểu Biện đưa mắt nhìn, quả nhiên trên con đường thẳng đối diện với cổng thành, có hàng trăm con chuột kìn kìn xúm lại một chỗ, cõng đứa bé trần truồng từ từ đi vào sâu bên trong. Đứa trẻ “oa oa” khóc lớn, chân tay giãy đạp liện tục.

Dẫn đầu bầy chuột bắt trẻ con là một con chuột cống già, toàn thân lông trắng, trụi lỗ chỗ, nó nheo nheo đôi mắt ti hí giảo hoạt dị thường, thỉnh thoảng lại trèo lên người đứa trẻ, dùng đuôi ngoáy làm thằng bé nhột nhạt. Đứa bé trần truồng ước chừng chỉ khoảng một tuổi, lúc thì khóc lóc, quẫy đạp, lúc thì bị con chuột cù lại phá lên cười, có lẽ bầy chuột đã dùng chính thủ đoạn này làm đứa bé thôi khóc để đưa nó từ nhà dân đến đây.

Trương Tiểu Biện xem rõ, vô cùng ngạc nhiên, hạ giọng chửi: “Bọn chuột chết toi này sao cũng học được ngón trộm gà của Tam gia ta nhỉ! “

Tôn Đại Ma Tử nói với Trương Tiểu Biện : ” nghe nói thành Linh Châu hay bị mất trẻ con, thường náo loạn cả thành, ai cũng bảo rằng thủ đoạn của bon mẹ mìn lợi hại. Ta cứ tưởng chỉ là lời đồn bậy trên phố, hóa ra mầm họa là từ ” thành Đũa” bên dưới Hòe viên này. Đứa trẻ đó không biết là con cái nhà ai, bị bọn chuột bắt về trong thành thì sốnglàm sao nổi, hai chúng ta phải mau cứu nó ra mới được.”

Trương Tiểu Biện tuy không biết đàn chuột bắt đứa trẻ về làm gì nhưng đoán rằng không phải việc tốt, vả lại tính cách của hắn một là hám lợi, hai là hiếu sự. Lúc bình thường, hễ thấy gió lay cây động, là hắn lập tức nóng mắt nóng tai, chạy lại xem cho rôm rả. Hắn thường tự cho mình can đảm hơn người, thích hành hiệp trượng nghĩa, hễ thấy sự bất bình trên đường là ra tay cứu khốn phò nguy, chẳng bao giờ chịu ngồi yên. Lúc ấy hắn nhất thời tức khí lên muốn làm anh hùng hảo hán, liền tạm gác việc đi tìm sự phú quý trong Hòe viên, định xông thẳng vào trong thành giải cứu đứa trẻ bị bầy chuột bắt cóc.

Nào ngờ cửa thành Đũa quá hẹp, Trương Tiểu Biện tuy người gầy xương nhỏ nhưng cũng không chui qua được, đành trơ mắt nhìn bầy chuột mang đứa trẻ đi xa dần, mất hút trong thành. Chẳng bao lâu nữa, đã không còn nghe thấy tiếng trẻ khóc đâu nữa.

Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử thấy chưa gì đã mất cả tiên cơ, liền tính cách dùng sức phá vỡ tường thành xông vào. Ngờ đâu, những chiếc đũa ấy đều được gắn keo da cá rất chặt, tuy không kiên cố bằng gạch đá nhưng chỉ với sức của hai gã, trong tay lại không có cuốc chim hay xẻng gì, muốn phá hủy hay đẩy đổ tường cũng hết sức tốn công.

Trương Tiểu Biện nôn nóng, chợt vỗ trán, nghĩ bụng : “Đúng là cuống quá hóa hồ đồ? Sao không trèo thành mà vào? ” Nghĩ thế, hắn vội giơ đèn chiếu lên bờ tường thành, chỉ thấy tòa thành trong động có bề mặt thành cách trần động một khoảng khá xa.

Trương Tiểu Biện kéo Tôn Đại Ma Tử dậy, chỉ tay lên trên ra iệu, sau đó hai người dùng cả chân cả tay trèo qua tường thành cao quá nửa người. Chỗ đặt chân bỗng vang lên tiếng ” chít chít” thảm thiết, cả hai giơ đèn cúi đầu xem, thì ra là cả một ổ chuột nát nhừ, máu thịt bầy nhầy một đống. Trương Tiểu Biện vội nhấc chân chà giày vào tường thành bên cạnh, kêu lên: ” Đừng trách, đừng trách. Có trách thì trách mẹ chúng mày sonh nhầm chỗ.”

Tôn Đại Ma Tử cũng giơ gậy đạp tứ tung xuống đất, đuổi bọn chuột xung quanh chạy dạt ra, rồi cả hai cùng xem xét tình hình trong thành. Trong tòa thành Đũa bị lũ chuột chiếm cứ này, mỗi gian phòng ốc, lầu gác đều có vào con chuột, nhung nhúc khắc nơi không sao đếm xuể. Các gian nhà thấp bé nối dài tít tắp, lốm đốm cơ man những chân đèn, chân nến đang cháy, nhưng ánh nến phía đằng xa yếu ớt nên nhìn không rõ rốt cuộc tòa thành này quy mô như thế nào.

Hai người nhất thời không biết nên đi đâu để tìm ra đứa trẻ bị bầy chuột đưa đi lúc nãy, đành dò dẫm bước vào vùng nhà cửa san sát phía trong thành, TrươngTiểu Biện phát hiện ra con mèo đen trong lòng đang run lên sợ hãi, thầm cảm thấy cổ quái. Bầy chuột trộm đũa xây thành đã là một chuyện hết sức ly kỳ trong thiên hạ, không ngờ đến cả mèo trong thành Linh Châu lại cũng sợ chuột, chẳng lẽ trong tòa thành chuột này còn điều gì hung hiểm chưa hiển lộ ra nữa hay sao? Tới nước này, không thể không đề phòng cẩn thận hơn, chớ để Tam gia ta chưa phát tài đã lỗ cả vốn, mất cả tính mạng ở đây. Nghĩ đoạn, hắn bất giác đi chậm lại.

Hai người đi được mấy bước trên con đường hẹp hai bên san sát lầu đũa nhà đũa trong thành, bỗng thấy một trận gió âm thổi vào mặt, trong gió thoảng một mùi hương lạ, nồng nồng khác hẳn mùi xú uế, lạnh lẽo trong địa động. Mặc dù Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử đã dùng vải nút mũi nhưng mùi hương nọ vẫn xộc thẳng lên tận óc, hai người cùng bỏ vải che mặt ra, hít hà một lúc rồi nói: “Dường như là mùi thịt hầm, nhưng thịt gì mà hầm thơm thế? Thịt bò hay là thịt chó nhỉ?”

Cả hai đã lâu rồi chưa được ăn mặn, ngay cả mùi vị thịt bò hầm ra sao cũng gần như quên mất rồi, lại gặp đúng lúc bụng đang trống rỗng, ngửi thấy mùi thịt nức mũi thì không khỏi them thuồng rỏ dãi, liên tục nuốt nước bọt, đưa tay áo rách quệt nước dãi đang chảy ròng ròng trên khóe miệng, bất giác rảo bước lại phía mùi thịt thơm nồng.

Qua hai khúc ngoặt, cả hai đến trước một căn lầu đũa cao lớn dị thường. Căn lầu cao hơn một trượng, nằm giữa ngã tư, nhà cửa xung quanh đều thấp hơn rất nhiều, bên trong không có ngọn đèn ngọn nến nào. Cửa sổ, cửa ra vào lầu cũng ghép bằng những chiếc đũa, đóng lại im ỉm. Trên con đường phía trước của lầu đặt một nồi hầm to, đáy nồi là một hố bếp đang cháy, cũng không rõ bên trong đựng thứ gì, hơi nghi ngút bốc ra qua kẽ hở chỗ nắp vung khép hờ.

Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử chỉ chun mũi hít một hơi, biết rằng mùi thịt thơm lan tỏa trong thành chính là từ nồi này mà ra, bèn nghĩ bụng : ” Ai đang hầm thịt nhỉ? Chẳng lẽ ngoài bầy chuột lớn, trong thành còn có người cư trú?” Mùi thịt trong nồi thơm ngon khó cưỡng, hai gã chẳng buồn nghĩ ngợi gì thêm, thấy bốn phía toàn chuột là chuột, chẳng có hiện tượng dị lạ nào , liền rảo bước tới gần cái nồi.

Trương Tiểu Biện dí mũi gần nồi, hít sâu mấy hơi, mặt mày rạng rỡ, khen rằng: “Thơm quá! Thơm quá! Ai cũng biết quán ngon nổi tiếng trong thành Linh Châu là Bát Tiên Lâu, nhưng tuy là đầu bếp trong Bát Tiện Lâu tinh thông các món ăn nổi tiếng Bắc Nam cũng chưa chắc đã làm được nồi thịt ngon thế này.” Nói xong, hắn không kìm được giơ tay mở nắp vung. Chẳng cần biết nồi thịt của nhà ai, định ăn một bữa no rồi hẵng tính.

Tôn Đại Ma Tử ngăn lại, nói: ” Chúng ta đều là bậc trượng phu trong sạch, sao có thể ăn vụng của người ta được”

Trương Tiểu Biện nói : ” Huynh đệ chúng ra đương nhiên là người ngay không làm chuyện mờ ám, tuy không biết ai đang ở trong thành Đũa này nhưng cũng không thể ăn không của người ta được… ” Hắn vừa nói vừa sờ soạng trong người một hồi. Sau khi làng Kim Quan bị lửa chiến tranh hủy diệt, Trương Tiểu Biện đã bới trong đống đổ nát và xác người được ít lương khô và tiền nong. Lúc ấy, còn dư được vài đồng, hắn liền tiện tay lấy ra đặt xuống cạnh bếp rồi nói với Tôn Đại Ma Tử rằng: ” Bây giờ trả họ tiền là được chứ gì?”

Tôn Đại Ma Tử tuy ngoài miệng nói cứng nhưng bụng cũng đang réo ồ ồ, nước bọt đã ứa ra chảy dài cả thước, chẳng thèm hỏi số tiền đó bao nhiêu, lập tức ngoạc mồm kêu lên: ” Nếu đã như thế, tất nhiên mỗ cũng chẳng có gì để nói… ” Chưa dứt lời gã liền vội sán lại, dùng gậy nhấc nắp nồi, định cùng với Trương Tiểu Biện đánh chén một bữa.

Dù gan dạ có sắt thép đến mấy cũng phải thưa cái bụng đói, Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử bị mùi thịt thơm trong nồi quyến rũ, bao nhiêu chuyện khác đều gác hết ra sau đầu. Tới khi mở nắp vung ra, xua bớt hơi nước sôi đang nghi ngút, vừa mới ngó vào bên trong cả hai đã suýt chút nữa nôn ọe cả bữa cơm ăn từ năm ngoái. Thì ra, bên trong nồi đang hầm chín nhừ bốn đứa bé trần truồng béo mập, nhìn áng chừng đều là những bé trai bé gái tầm một, hai tuổi.

Thật đúng là: “chạy trời không khỏi nắng” Tôn Đại Ma Tử bằng ngần này tuổi, ỷ mình can đảm chính trực, lại có võ nghệ, xưa nay chưa từng biết sợ là cái gì, thế mà lần này đúng là run rẩy từ tận đáy lòng, cả người từ đầu đến chân lạnh toát, sợ đến nỗi vội rụt tay làm cho nắp vung rơi trở lại: ” Cha mẹ ơi, hầm như người sống! Ai mà dám ăn chứ?”

Trương Tiểu Biện nghĩ thầm: ” Thứ nấu trong nồi vừa làm món ăn vừa làm món nhậu được, nhưng chắc chắn không phải dành cho người sống ăn, hẳn là trong nhà ma Hòe viên này có thứ gì đó rất ghê tởm, lâu ngày đã tự luyện thành tinh, lại còn biết sai khiến lũ chuột bắt trẻ con trong thành. Bọn chúng ta dẫu có thủ đoạn đầy mình e cũng không phải là đối thủ của nó được. Nhân lúc tên cầm đầu còn chưa hiện thân, không đào thoát bây giờ thì còn đợi lúc nào?” Hắn liền đánh mắt với Tôn Đại Ma Tử, hai người chuẩn bị chuồn thẳng một lèo, nhưng lúc đó muốn chạy khỏi thành Đũa này không kịp nữa rồi.

Đúng là: “Thiêu thân vào lửa thôi khôn cứu; Cá lọt đáy nồi sống được chăng?” Muốn biết việc sau thế nào, hạ hồi phân giải.
Hồi thứ 8: Quái Tăng
Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử lạc vào thành Đũa, phát hiện ra trong thành có rất nhiều điều cổ quái, trong cái nồi to phía trước một căn lầu xây bằng đũa đang hầm bốn đứa trẻ béo trắng, quần áo và giày dép trẻ con vứt bừa xung quanh, khiến hai gã đều kinh hồn lạc phách, giờ mới thấy mùi thịt thơm nức trong nồi hết sức kinh tởm, súyt nữa nôn hết mật xanh mật vàng ra ngoài.

Hai gã đang định bỏ trốn khỏi thành, chợt nghe phía sau căn lầu vang lên một tràng loảng xoảng tiếng xích, tựa như có một con vật lớn nào đó đang di chuyển từ xa lại phía này, tốc độ khá nhanh. Bầy chuột tập trung quanh bếp lửa cũng thi nhau nấp vào các phòng ốc hai bên đường.
Trương Tiểu Biện thường hay bắt gà trộm chó, xưa nay vốn rất nhanh nhẹn cơ trí, thấy tình hình không ổn, lập tức thổi tắt ngọn đèn đang cầm trên tay, kéo Tôn Đại Ma Tử nằm phục xuống, nấp sau đám lầu gác lúp xúp. Đám phòng ốc dựng lên bằng đũa này cái cao cái thấp, vừa vặn che được thân hình của hai gã, vừa lại có chỗ để ghé mắt nhìn động tĩnh trên con đường phía trước.
Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử biết rằng, đây là lúc then chốt của sự sống và cái chết, tuyệt đối không phải trò đùa, tuy cả hai đều đã nín thở, nằm yên không nhúc nhíc nhưng tim vẫn đập thình thịch liên hồi, đồng thời cũng có vài phần hiếu kỳ, muốn xem kẻ nào đang nắp trong thành Đũa này ăn thịt trẻ con.
Bầy chuột trong thành, lúc ấy cũng đều co đầu co đuôi nhìn ra phía xa chờ đợi. Bốn bề nhất thời im phăn phắc, chỉ còn tiếng xích sắt kéo lê trên mặt đất, vọng đến càng lúc càng gần. Từ phía sau căn lầu Đũa, một vật đen sì sì to lù lù bò ra, xung quanh đèn lửa mờ mờ, cũng không nhìn được rõ, quan sát một lúc lâu cũng không biết rốt cuộc đấy là thứ gì.
Trương Tiểu Biện dụi mắt nhìn kỹ lại, thì ra trong ánh nến tàn và bóng đèn lồng chập chờn kia, xuất hiện một quái nhân mình khoác bộ da chuột, phía trước, phía sau có rất nhiều con chuột to đùng tiền hô hậu ủng. Người đó để đầu trọc, trên trán có vết chấm tàn hương, trông có vẻ giống một nhà sư.
Gã sư đó tựa như một bị thịt, béo tới mức rụt cả cổ lại, cái đầu trọc lông lốc giống một hình tam giác ngược, đỉnh đầu có một túm tóc bện lại như chỏm tóc của trẻ con, cuốn thêm mấy vòng dây đỏ lộn xộn. Nhìn từ phía sau, trông lão giống như một quả lê to, lại vừa giống một đạo đồng. Trên khuông mặt béo trắng, mắt mũi bé ti, ngũ quan dồn lại sát với nhau. Dưới ánh đèn mờ mờ trông lão còn nhác giống con người, chứ nếu không rất dễ lầm tưởng là một con chuột trắng lớn thành tinh.
Hòa thượng nọ khoác một cái áo ngắn rách rưới làm bằng da chuột lửa, không rõ đã chui ra chui vào địa động bao năm khiến lớp lông chuột đã bị mài đến mức trơ trụi. Bên trong lão chỉ mặc một cái yếm đỏ vừa rộng vừa to, bên trên có thêu hình uyên ương bỡn nước rất tươi tắn sinh động. Không hiểu lão gìn giữ thế nào mà da dẻ toàn thân trắng bóng nõn nà, tưởng như chọc vào là chảy mỡ ra ngay.
Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử thấy gã sư to béo, tâm lý đề phòng đã vơi đi một nữa, nhưng trông trang phục, cử chỉ của lão đều hết sức dị hợm, sư không ra sư, đạo sĩ không ra đạo sĩ, lại nghĩ đến mấy đứa trẻ trong nồi, nỗi sợ hãi càng tăng thêm, thầm nghĩ lão hòa thượng này chắc hẳn là yêu quái phương nào đó hóa ra, chẳng lẽ nào hạng chuyên ăn thịt người. Chuyện hòa thượng Chuột ăn thịt người đồn đại khắp thành Linh Châu, không rõ thực hư thế nào, chẳng lẽ lại chính là đây?
Hai gã đang kinh hãi, chợt thấy nhà sư mặc áo da chuột kia bò đến trước căn lầu Đũa, dừng lại nằm bò ra đất thở hổn hễn. Dường như lão đã lâu không trông thấy mặt trời, da dẻ nần nẫn lộ ra trắng tới mức nhợt nhạt, không có chút huyết sắc. Phía sau người lão kéo lê hang trăm cái khóa lấy khước của trẻ con có cả đồng lẫn bạc… trông như một cái đuôi chuột, kêu lanh canh loảng xoảng trên mặt đất.

Lão nghĩ ngơi một lúc rồi chầm chậm trở mình, trong miệng lầm rầm như đang nói tiếng của loài chuột, đoạn dùng ngón tay vừa ngắn vừa mập mở cửa lầu Đũa. Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử nấp trong bóng tối nhìn trộm, liền thấy bên trong hóa ra là một đống vàng bạc châu báu nhìn mà hoa cả mắt, nào là nén vàng thoi bạc, nào là ngọc ngà mã não, xếp chật cứng cả căn lầu.
Đang lúc ấy, có một bầy chuột vận chuyển bạc đi đến. Trương Tiểu Biện từng tận mắt nhìn thấy chuột trộm trứng gà: Một con chuột nằm ngửa, bốn chân quắp chặt quả trứng gà trong lòng, một con chuột khác ngậm đuôi nó kéo đi, cứ như thế mang quả trứng về hang chuột. Nhìn tình cảnh lúc này, hóa ra bầy chuột lớn trong thành Đũa đang sử dụng phương pháp đó để ăn trộm từng thoi, từng thoi vàng bạc mang đến trước cửa căn lầu, rồi gã sư kia lượm lại cất hết vào bên trong.
Trương Tiểu Biện thấy vàng liền nổi lòng tham, cảm thấy miệng khô lưỡi đắng, lòng nóng như lửa đốt, hai mắt xanh rờn, thầm nhủ, Lâm Trung Lão Quỷ quả nhiên không lừa Tam gia ta, trong Hòe viên đúng là có một món tiền lớn, chỉ có điều phải làm cách nào lấy được đây? Thấy thời cơ chưa đến, hắn đành nhẫn nại, tiếp tục nấp bên trong đám phòng xá để quan sát động tĩnh.
Gã sư trong động dường như có thể sai khiến lũ chuột. Tất cả chuột lớn, chuột bé trong thành Đũa đều tuân theo sự chỉ bảo của gã, từng đàn chuột lũ lượt kênh đũa tre và bạc đến giao nộp. Mỗi lần nhặt một nén bạc lên, lão đều xoa xoa trên mặt, cười hi hi một hồi, sau đó mới tần ngần bỏ vào trong lầu. Thần sắc trên khuôn mặt cổ quái hiện lên vẽ tham lam, đáng ghét cực độ.
Một lúc sau, vận chuyển hết số bạc, lão đóng cửa lầu lại, rồi tập trung tinh thần dùng đống đũa để xếp ra các đình đài lầu gác. Dường như lão ta không biết đi, chỉ có thể bò bằng tay chân như một đứa trẻ chưa thôi nôi. Được một lúc, lão lấy tay xoa bụng ra chiều hơi đói, rồi bò lại trước nồi thịt hầm, ghé mũi hít hà mùi thịt, mặt lộ vẻ vui sướng, nước dãi nhễu ra bên mép.
Lão giở nắp vung, lôi ra một đứa bé chin nhừ, lật qua lật lại nhìn ngó rồi xé tay, dứt cẳng, lẳng xương thịt xuống đất. Bọn chuột trong các phòng xá xung quanh liền nhao ra lao tới tranh ăn. Lão sư cười khằng khặc hai tiếng, giơ cái đầu trẻ con trong tay lên húp nước dịch trong ấy.
Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử nhìn cảnh ấy vừa sợ hãi vừa kinh tởm phát buồn nôn, đành nhắm mắt không dám nhìn trộm nữa. Nhưng tiếng húp dịch não xì xụp của lão và tiếng gặm xương thịt người răng rắc của lũ chuột vẫn vang lên, không ngừng xói vào tai hai kẻ.
Trương Tiểu Biện chỉ còn cách lấy tay bịt chặt tai lại, chẳng ngờ vì nup quá lâu, lại không dám thở mạnh nên mạch máu ở chân tay không lưu thong, tứ chi đã gần như tê dại, hắn vừa nhấc tay lên thì cả người mất trọng tâm, ngã chồm về phía trước. Con mèo đen trong lòng gã vốn đã sợ đến nỗi cuộn tròn người lại, bị hắn ngã đè lên, không nhịn nổi đau, liền gào lên một tiếng thảm thiết.
Bầy chuột đang ăn thịt trẻ con chợt nghe tiếng mèo kêu, lập tức đờ ra, vô số con mắt chuột liên láo nhìn lại. Quái nhân nửa tăng nửa đạo mặc áo chuột Lửa cũng từ từ cất đầu lên, thần sắc ngơ ngác, bên mép còn dính nước thịt, hai con mắt ti hí không ngừng dò nhìn bốn phía.

Trương Tiểu Biện thầm kêu khổ: “Dớ dẩn quá, lần này mà lộ tung tích chắc hẳn sẽ bị bắt đem luộc nhừ trong nồi rồi. Ông trời không có mắt, sao lại hành hạ Tam gia ta đến thế này?”
Tôn Đại Ma Tử thấy đã bị lộ, cậy mình khỏe mạnh, định liều mình quyết chiến một phen, liền nhấc cây gậy chuẩn bị lao lên đánh. Nào ngờ, gã sư mặc áo chuột lửa kia vừa lẩm bẩm một chuỗi âm thanh sin sít trong cổ họng, lập tức có vô số chuột lớn trong thành ào ra, xông đến vây kín chỗ nấp của Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử.
Thường có câu rất hay rằng: “Mãnh hổ nan địch quần hồ”, hành ngàn con chuột kết thành một đội quân dày đặc vây công, Tôn Đại Ma Tử làm sao chống lại cho được?
Yêu tăng nọ thấy có người sống bước vào thành Đũa thì nổi giận đùng đùng, không đợi đàn chuột kết xong thế trận bao vây đã lao phắt đến gần. Người lão nặng chừng hai trăm cân thịt, huých cho nhà cửa đổ nghiêng đổ ngã. Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử thấy hơi tanh xộc vào mặt, đờ đẫn cả ra, không kịp phản khánh, liền bị lão quật ngãlăn ra đất.
Trương Tiểu Biện biết sống chết chỉ còn trong đường tơ kẽ tóc, liền níu cứng xon mèo đen trong lòng định ném ra để giương đông kích tây, thừa cơ thoát thân. Nào ngờ đâu, con mèo vốn đã sợ chết khiếp, cứ rút vào trong lòng hắn không chịu ra.
Trương Tiểu Biện không tóm được đuôi mèo, trong lúc nguy cấp liền thò cả hai tay tóm vào hai bên tai mèo, lôi thẳng con mèo đen ra che trước ngực. Tóm tay mèo vốn là một thủ pháp trong thuật xem tướng mèo thời xưa. Tương truyền, muốn biết gân cốt một con mèo ra sao, người ta chỉ cần tóm hai tai mèo rồi giơ lên. Nếu là con mèo hay, biết bắt chuột thì khi tai bị đau, nó sẽ co rúm bốn chân lại, đuôi mèo cuộn lên trên đầu, toàn thân biến thành một quả cầu lông để giảm bớt đau đớn ở tai; ngược lại nếu là một con mèo lười, khi bị người ta nhấc tai lên thì bốn chân cào cấu lung tung, nhá mõm nhe nanh gào thảm thiết, loại mèo đó không đuổi được chuột.
Lại nói thêm, có câu rằng: “Nói Tam Quốc phải bàn Gia Cát Lượng, kể Triệu Vân phải nhắc trận Đương Dương”, câu chuyện của chúng ta vốn có tên là “Tặc miêu”, đã là “Tặc miêu” thì đượng nhiên phải đề cập đến thuật xem tướng mèo, điều khiển mèo đã có từ thời xa xưa. Đó là điều cốt tủy của cuốn sách này, nhưng đó đều là chuyện về sau, từ từ sẽ nói rõ.
Lại nói đến đoạn Trương Tiểu Biện hoảng loạn tóm chặt hai tai của con mèo đen, giơ lên. Con mèo đen vốn là mèo nhà, lười hơn cả những con mèo hoang ở ngõ Miêu Nhi, nhờ vào phúc ấm của Miêu Tiên gia mà từ xưa tới nay được hưởng cuộc sống vô tư lự trong thành Linh Châu. Tuy có gân cốt thượng phẩm của giống Nguyệt ảnh ô đồng kim tuyến miêu nhưng trước nay chưa bao giờ bắt chuột hay trộm vàng trộm bạc gì, ngày thường chỉ biết trèo cây leo cột, đuổi sẻ làm vui, khi đói thì lẻn vào nhà bếp trộm cá, trộm bánh bao. Lúc này, hai tai bị đau, nó liền học theo lối của tổ tiên là cuộn chân, cuộn đuôi lại, nhưng không làm nổi, đuôi mèo mới cuộn vào một nửa đã đến cực hạnh, bốn chân mèo lại chỉ biết quờ lung tung phía trước.
Đúng lúc đó, gã sư kia đang chồm về phía Trương Tiểu Biện, không kịp đề phòng thì thấy trước mặt xuất hiện một con mèo đen bấu chặt vào bộ mặt gã, hai cặp mắt người và mèo nhìn thẳng vào nhau, móng chân mèo cào lên mặt khiến máu tươi chảy dầm dề. Gã sư này mặt mũi xấu xí, giờ máu lại chảy đầy mặt trông càng hung tợn gớm ghiếc. Lão đã sợ hãi thì chớ, con mèo đen càng sợ hãi hơn. Giống mèo sản sinh ở Linh Châu, ngày thường thì chẳng sao, nhưng một khi đã khiến chúng sợ tới cực điểm thì hai mắt lập tức vằn lên tia máu đỏ. Con Nguyệt ảnh ô đồng kim tước miêu vừa gào thê thảm, cặp mắt lập tức biến thành hai đốm máu như hai ngọn đèn đỏ trong đêm đen.

Không đến lúc sinh tử tồn vong, sao có thể thấy mắt mèo kỳ dị? Gã quái tăng bị con mèo đen trừng mắt nhìn mà đến nỗi “Anh hùng ngã chết từ lưng ngựa, giỏi lội bơi song vẫn chết chìm” Muốn biết sự thể ra sao, xem hồi sau sẽ rõ.
Hồi thứ 9: Bát Tiên Lâu
Lại nói, con mèo quý hiếm dị thường Nguyệt ảnh ô đồng kim tuyến miêu sợ hãi tột độ, bị Trương Tiểu Biện nắm chặt hai tai giơ lên, vừa đúng lúc bấu chặt vào mặt tên quái tăng. Bốn mắt nhìn nhau, cặp mắt mèo liền vằn lên tia máu đỏ, mình mẩy xù hết lông lên như bị ma nhập, khác hẳn lúc thường.
Gã quái tăng có ngón nghề sai khiến bầy chuột kia bỗng bị cặp mắt mèo đỏ máu chiếu tướng, lấy làm khiếp sợ, không kịp đề phòng, thét lên một tiếng, ngã ngửa ra sau.
Cũng hợp với lẽ mèo chuột tương khắc, thêm vào bản thân gã quái tăng này bẩm sinh đã rất sợ mèo đen, chỉ thấy lão ngã lăn ra đất, miệng sùi bọt mép, tứ chi ngắn ngủn co rút lại, giống như người bị động kinh, lồng ngực tức nghẹn không thể thở được.
Tôn Đại Ma Tử thừa cơ bật dậy, vung cây gậy trong tay lên giáng thẳng vào đầu lão. Gã vốn là loại khỏe như văm, một gậy đánh ra cuốn theo tiếng gió vùn vụt, giáng trúng đỉnh đầu của gã quái tăng làm máu thịt bắn tung tóe, chết ngay tại chỗ.
Lũ chuột trong thành Đũa mất chủ, lập tức như tỉnh cơn mê, chẳng đợi Trương Tiểu Bân và Tôn Đại Ma Tử động thủ, chúng đã tranh nhau trốn khỏi thành. Bốn phía xung quanh có rất nhiều hang chuột, trong chớp mắt chúng đã bỏ chạy sạch không còn một bóng.
Trương Tiểu Bân định thần lại sau cơn hoảng hốt, vội bế thốc con mèo vào long, nói với Tôn Đại Ma Tử: “Việc này đúng là trời định, đều nhờ Miêu Tiên gia hiển linh phù hộ, cũng may là Tam gia này nhanh trí dung mèo đen phá tà thuật của yêu tăng, lại cũng nhờ cách xử trí cũng như kiến thức của bậc anh hung hào kiệt Ma Tử huynh đây tương trợ nữa, vậy mới có thể đánh bại được lão hòa thượng Chuột này.”
Tôn Đại Ma Tử lau vết máu dính trên mặt, nói với Trương Tiểu Biện: “Ở hiền gặp lành, ác giả ác báo, trên trời có thần phật, nhân gian có vương pháp, dưới âm có Diêm vương, sao chẳng ai biết đến việc này nhỉ? Gã hòa thượng Chuột này bắt cóc trẻ em con nhà người ta đem đi ăn thịt, thực là trời đất không thể dung tha, thế mà hóa ra không chịu được đòn, mỗ mới đập có một gậy mà đã kết liễu được cái mạng chó của gã, thực là quá dễ dãi cho tên giặc này. Thứ này phải bắt sống giải lên nha môn xử trí, lột da lóc thịt mới đúng.”
Trương Tiểu Biện nói: “Nó đã chết ở đây, coi như cũng bị báo ứng rồi. Huynh đệ chúng ta gặp nạn không chết ắt là có phúc về sau. Giờ đây đám vàng bạc châu báu giấu trong thành Đũa này đã thành vật trong túi bọn ta rồi. Từ khi gặp ma trong mộ Kim quan, Tam gia ta trải qua muôn vàn gian khổ, chịu biết bao đè nén, gặp biết bao hiểm nguy, rốt cuộc cũng đạt thành chính quả, ngày tháng sau này khổ tận cam lai, chỉ còn việc ăn sung mặc sướng, sống hưởng thụ thôi… ” Hắn nói vung thiên địa, quên sạch mọi thứ xung quanh, biết đâu rằng chuyện thế gian xưa nay biến đổi khôn lường, những gì không phải của mình về sau ắt phải hoàn trả.
Hai gã nhớ lại tình cảnh lúc hòa thượng Chuột ăn thịt người bỗng nổi giận khôn tả, liền ra sức đá mấy cái lên người gã quái tăng, sau đó mới lần mò đến trước cửa lầu Đũa. Trong lầu bạc chất như núi, nhìn hoa cả mắt, hai người có bốn cánh tay làm sao vận chuyển ngần ấy bạc được. Bàn tính sơ qua, Trương Tiểu Biện nghĩ ra một mánh: Ước chừng tới giờ trời cũng sắp sang, chi bằng tạm quay về trước, trả chìa khóa Hòe viên cho Thiết chưởng quầy, đồng thời nói dối là trong Hòe viên đúng là có con ma rất khủng khiếp, đêm hôm qua cả bọn không dám vào ở, sau đó đợi đến khi trời tối, đẩy xe lừa lại phía cửa vườn sau, trèo tường vào chuyển bạc. Con phố này vốn không ai dám ở, hành sự như vậy thì thực là thần không biết, quỷ không hay.

Hai người quyết định như thế, lập tức nhét đầy một bao bạc giắt vào người, lần theo đường cũ trở ra, rồi lại che đậy lối vào đường ngầm trong Hòe viên. Xong xuôi thì trời cũng đã hừng sáng, hai gã liền đến Miêu Tiên tử tìm Tiểu Phượng. Cả ba khấu đầu mấy cái thật kêu trước Miêu Tiên gia, đoạn đứng ở trong ngõ đợi lão lính già cầm canh Thiết Trung.
Tiểu Phượng thấp thỏm lo sợ cả đêm trong ngôi miếu nát, lại nghe hai gã thêm mắm dặm muối kể chuyện bọn chuột trong Hòe viên xây thành, bắt cóc trẻ con ăn thịt, lại càng thêm kinh hãi thót tim. Cả ba đều không đoán được lai lịch của gã quái tăng có thể điều khiển đàn chuột trộm bạc kia.
Cứ theo tính cách của Trương Tiểu Biện trước đây, nhất định hắn sẽ sinh long hiếu kỳ, sẵn sàng làm loạn mọi chuyện lên, nhưng lúc này thì khác, hắn thấy rằng thêm một chuyện chẳng bằng bớt đi một chuyện, vì giá trị của Trương Tam gia giờ đã khác rồi, mạng người giàu quý như vàng, sao lại có thể xông vào chỗ nguy hiểm được nữa? Tới giờ, món đại phú đại quý đã vào tay, những việc hắn muốn làm chỉ là tìm cách mang hết số bạc lớn đó rời thành cao chạy xa bay, quyết không để sinh thêm chuyện râu ria nữa.
Ba người thì thào một lúc lâu trong ngõ, đầu tiên là bàn xem làm thế nào để chuyển bạc trong đêm nay, rồi lại thương lượng xem tiêu tiền thế nào, bàn tới chỗ Trương Tiểu Biện đồng ý chia cho Tôn Đại Ma Tử hai phần mười. Trương Tiểu Biện gặp được Lâm Trung Lão Quỷ trong mộ Kim quan, được tiên gia mach bảo mới biết trong Hòe viên thành Linh Châu có kho báu. Theo lý, số tài sản này đều thuộc về Trương Tiểu Biện. Nhưng Trương Tiểu Biện tự xưng là bậc trượng nghĩa, thấy cũng phải nhờ vào sức lực của Tôn Đại Ma Tử, nên đã chia cho gã hai phần.
Tôn Đại Ma Tử vô cùng cảm kích, rối rít tạ ơn Trương Tiểu Biện: “Sinh ra trong thời loạn thế thiên tai dịch họa liên miên này, ngày ngày chỉ cần có bữa cơm ăn là đã mãn nguyện lắm rồi. Nay được hiền đệ không chê mà chu tất cho Tôn mỗ phen này, từ giờ về sau xin nguyện theo Trương gia dắt cương buộc ngựa, cho dù hiền đệ có điều gì sai bảo, mỗ cũng xin làm theo, dẫu nhảy vào nước sôi lửa bỏng, cũng không từ nan.”
Trương Tiểu Biện rất thích được khen là nghĩa khí, nhưng riêng cô ả Tiểu Phượng thì từ đầu chí cuối hắn vẫn thấy khó chịu trong lòng, không muốn chia đồng nào cho cô ả quê mùa này. Có điều, niệm tình đồng hương đồng khói, từ rày trở đi cứ để cho ả ta làm người hầu cho Trương Tam gia sai vặt, việc khổ việc nhọc gì giao hết cho ả ta làm, ngày cho hai bữa cơm mà ăn. Gặp lúc lễ tết, nếu làm Tam gia ta vui lòng, biết đâu còn cao hứng ban cho ả một hai cái áo hoa mà mặc.
Tiểu Phượng uất đến phát khóc, càng nghĩ càng ấm ức, đúng là “Cáo đã gặp thời còn quá hổ; Phượng khi trụi cách chẳng bằng gà.” Trước đây ở làng Kim Quan, ai thèm để mắt đến thằng bắt gà trộm chó như Trương Tiểu Biện. Một thằng con hoang không cha không mẹ như hắn, muốn đánh là cho ăn đánh, muốn chửi là cho ăn chửi, ai ngờ hôm nay lại thành tài chủ, đến Tôn Đại Ma Tử cũng trở thành thủ hạ của hắn, mình thì bơ vơ, tan cửa nát nhà, về sau chắc phải cắn răng mà hầu hạ hắn rồi.
Trước đây, Trương Tiểu Biện bị mẹ con Vương quả phụ khinh khi quá lắm, bây giờ mới coi như hả cơn giận, định bụng bắt Tiểu Phượng đấm lưng bóp đùi, nhưng bỗng nhiên chợt thấy lo lắng, liền nói: “Không hay rồi, mặt trời đã quá con sào sao không thấy lão Thiết Trung tới đòi chìa khóa? Chẳng lẽ lão cho rằng chúng ta đã chết cả rồi sao?”

Ba người bọn Trương Tiểu Biện chờ mãi không thấy lão Thiết Trung tới lấy chìa khóa Hòe viên, đành tự mình đến Tùng Hạc đường. Nào ngờ đến trước cửa hiệu thuốc, thấy cửa đóng im ỉm, sắp đến giờ ngọ mà chưa mở hang, dò hỏi bọn người làm mới vỡ lẽ rằng từ sớm tới giờ không thấy bóng dáng Thiết chưởng quầy đâu, cả lão Thiết Trung cũng không thấy quay về. Tùng Hạc đường đang rối như canh hẹ, cử người đi tìm khắp nơi, việc buôn bán đành phải dừng lại.
Bọn người làm công trong cửa hiệu bàn tán ầm ĩ, đều nói Thiết chưởng quầy xưa nay quen ở nhà giữ của, tối đến thì không bước chân khỏi cửa, bây giờ sống không thấy người, chết không thấy xác, chuyện thật phiền phức. Có người đề nghị đến nha môn báo quan, cũng có người cho rằng có khả năng là Thiết chưởng quầy đương đêm đi tìm tiểu cô nương nào đó giải trí rồi ngủ lại không về, chẳng có gì đáng làm rộn lên, không nên báo quan vì chuyện vặt này làm gì. Lắm người nhiều miệng, phút chốc chộn rộn hết cả lên.
Trương Tiểu Biện ngầm cảm thấy có gì đó không ổn. Thiết Công Kê đang ở nhà như thế, sao đột nhiên mất tăm mất tích một cách mờ ám như vậy? Lẽ nào có liên can đến việc lão ta mua cương thi mỹ nhân ở Úng Trủng sơn? Nhưng chuyện này còn nhiều ẩn tình sâu xa, Trương Tiểu Biện căn bản không biết Thiết Công Kê cần Mỹ nhân và để làm gì, nghĩ nát óc mà cũng không hiểu đầu đuôi ra sao, đành mặc kệ, tính tiếp chuyện đến Hòe viên chuyển bạc khi đêm về.
Ba người bàn bạc xong, liền vào cửa hiệu quần áo trên phố mua lấy vài món đồ mới, rồi vào hàng ăn mua mười mấy cân rượu thịt về Miêu Tiên tử, thay những thứ quần áo rách rưới trên người ra, ăn một bữa no say, còn thừa bao nhiêu thì chia cho bọn mèo hoang trong miếu, đoạn trốn dưới bệ thờ đánh một giấc.
Cả bọn vốn định ngủ một mạch đến tối rồi động thủ, nhưng trong tay đã sẳn tiền đâm ra ngứa ngáy, thao thức không ngủ được, cảm thấy ngày sao mà dài dằng dặc, mặc trời mãi chẳng xuống núi. Trương Tiểu Biện chỉ hận mình không phải là Hậu Nghệ thời xưa, giương cung bắn rơi mặt trời, rốt cuộc cũng không dằn lòng được nữa, xoay sang nói với bọn Tôn Đại Ma Tử: “Nhàn rỗi đâm ra khó chịu quá! Đằng nào thì chúng ta đã rủng rỉnh rồi, cứ ngồi yên trong miếu thế này chi bằng để Tam gia ta mời các người đến Bát Tiên lâu ăn một bữa, nghỉ ngơi khỏe khoắn rồi tối sẽ hành động.”
Tôn Đại Ma Tử và Tiểu Phượng luôn miện khen hay, hai người sớm đã nghe tiếng Bát Tiên lâu trong thành Linh Châu. Trong vòng mấy trăm dặm quanh đây, ai mà chẳng biết đây là tửu lâu lớn nhất, xa hoa nhất trong thành. Thành Linh Châu nổi tiếng là chốn phồn hoa thiên cổ, Bát Tiên lâu cũng là hiệu lâu đời cả mấy trăm năm, thực khách tới đó ăn cơm uống rượu đều là quý nhân, quan lại và đám thương gia giàu có lai vãng khắp miền Nam Bắc, bọn cùng đinh quê mùa như mấy người bọn hắn làm gì có phúc phận mà hưởng thụ? Đến nằm mơ cũng chẳng thấy trong Bát Tiên lâu có những thức sơn hào hải vị gì.
Cả ba nổi lòng ham ăn them uống, cũng mong đến đó một phen cho mở rộng tầm mắt, nói đi là đi liền, bèn mang theo con mèo đen, hỏi thăm đường xá đến Bát Tiên lâu. Bát Tiên lâu nằm trên con phố lớn, nhộn nhịp nhất ở phía Nam thành. Dọc hai bên phố, hang ăn mọc lên san sát. Thương nhân trong thành Linh Châu rất đông, lại đều là nhà giàu có, cho dù ngoài thành đang đánh trận nhưng bên trong vẫn nhộn nhịp đàn ca, hết sức náo nhiệt.

Trương Tiểu Biện thính tai, nghe loáng thoáng trong quán trà vệ đường có tiếng kể chuyện liền ngừng chân, thấy trời còn sớm, chưa đến lúc tới Bát Tiên lâu ăn cơm, liền dắt Tôn Đại Ma Tử và Tiểu Phượng vào quán trà, gọi ít trà nước điểm tâm hảo hạng, học lối của người có tiền, ngồi thưởng trà nghe truyện.
Vị tiên sinh trong quán đang kể truyện “Thủy Hử”. Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử thích nhất là nghe tích này, đặc biệt là sự tích hảo hán Võ nhị lang đánh hổ. Nói theo cách hiện đại thì hai tên này là “fan cuồng” của Võ Tòng và Yến Thanh. Nghe đến đoạn Trương đô giám hãm hại Võ Tòng, anh hung gặp nạn, cả hai đều nghiến răng căm tức, vỗ bàn đập ghế, nghe đến khi Võ Tòng đại náo Phi Vân phố, máu rửa Uyên Ương lâu, giết sạch cả nhà kẻ thù, đám người vỗ tay khen hay rối rít.
Nghe hết chuyện thì cũng đến giờ cơm, cả ba đi thẳng đến Bát Tiên lâu, chưa vào tới nơi đã ngửi thấy mùi rượu thịt thơm lừng từ trong lầu xộc lên nức mũi. Ba người chưa từng đến tửu lâu nào sang trọng như thế, nhưng trong túi có tiền, lá gan cũng lớn hơn nhiều, vừa đặt chân vào, lập tức thấy cô tiểu nhị chạy ra nghênh đón.
Tên tiểu nhị nọ chuyên phụ trách đón khách, thấy một người mặt mụn, một ả nha đầu quê mùa đang dáo dát nhìn bốn phía, bộ dạng ngó nghiêng ngơ ngác, ngoài ra, còn có một tên nhỏ thó, mặt mày đầy vẻ lưu manh vô lại, liền biết ngay đây là lũ cùng đinh mới lên tỉnh, nhưng thấy cả ba tuy đầu bù tóc rối mà quần áo trên người lại sạch sẽ chỉnh tề, không giống bọn hành khất vào xin ăn, bèn thầm nhủ lúc này đương khi khách quý nhộp nhịp, không tiện quát tháo đuổi chúng ra, nếu chúng ăn xong quịt tiền thì lột mấy món quần áo gán nợ cũng không muộn.
Thế rồi tên tiểu nhị liền mời bọn Trương Tiểu Biện vào chỗ ngồi, hắn cậy tiệm lớn coi thường khách, khinh khỉnh hỏi ba vị quan khách muốn dung món gì, lại nói thêm rằng Bát Tiên lâu không bán mấy món rẻ tiền.
Tôn Đại Ma Tử và Tiểu Phượng chưa từng bước vào tiệm ăn lớn, không khỏi cảm thấy tự ti, chỉ biết nghiêng ngó xung quanh, bị tên tiểu nhị hỏi liền lung túng không biết gọi món thế nào. Duy có Trương Tiểu Biện to gan lớn lối, vỗ bàn mắng: “Con bà nhà ngươi, dám khinh Tam gia ta không có tiền phòng? Tam gia ta muốn ăn cơm lạt canh suông mà lại đến cái tiệm này của nhà ngươi sao?” Nói xong, hắn quăng hai đỉnh bạc lớn lên bàn, cao giọng nói: “Hôm nay Tam gia ta làm chủ, mời hai vị bằng hữu đến ăn cơm. Cái đồ mặt sẹo mù mắt nhà ngươi báo cho Tam gia ta biết trong tiệm này có món gì ngon nhất?”
Phàm bọn tiểu nhị đón đưa khách, phần lớn đều là lũ thấy tiền sáng mắt, chỉ biết vụ lợi. Tên tiểu nhị thấy Trương Tiểu Biện mở miện ra đã măng chửi, đang định nổi sung lên, bỗng thấy tiền bạc hiện ra trước mắt, cả một bụng bực tức liền xẹp ngay xuống, lập tức đổi thái độ, chớp chớp mắt, toét miệng cười cầu tài: “Đúng,đúng, khách quan dạy rất phải, con đúng là có mắt không tròng, xin quý khách mở lượng hải hà! Bát Tiên lâu chúng con mời toàn đầu bếp danh tiếng ở các nơi về, chuyên làm các món nổi tiếng khắp Bắc Nam, được gọi là “Thiên cổ danh thành đệ nhất lâu”. Các thứ bay trên trời, chạy dưới đất, sống trên núi, bơi dưới nước, muốn ăn gì là có thức nấy, thực sự là không thiếu thức nào. Con xin đọc tên vài món cho ba vị nghe ạ.”

Từ xưa có câu rằng: “Mở tiệm chớ nề khách chén nhiều” đã có bạc vào đánh chén thì cửa hàng có lý đâu lại đi tiết kiện hộ thực khách, chỉ thấy tên tiểu nhị vội vàng dâng trà, rót nước, sau đó đứng bên cạnh đọc tên lần lượt các món ăn.
Bọn Trương Tiểu Biện hầu như chưa từng nghe nói tới, những món này cũng chẳng biết món ngon Nam Bắc là những thứ gì, làm tình làm tội tên tiểu nhị kia chán chê, cuối cùng mới bảo, Tam gia hễ ăn thì không bao giờ hỏi giá tiền, thôi thì chỉ cần là món ngon của Bát Tiên lâu, cứ mang ra độ mười mấy món là được. Loáng một cái, tiểu nhị đã lần lượt dâng cơm rượu lên, bảy đĩa tám bát, bày chặt cả bàn. Món ăn của Bát Tiên lâu thành Linh Châu danh bất hư truyền, quả nhiên đủ cả sắc, hương, vị.
Bọn Trương Tiểu Biện vén tay xắn áo, cầm đũa há mồm, đang định thả sức ăn uống một trận đã đời, nhưng chưa kịp gắp đã nghe một tiếng hét lớn bên ngoài Bát Tiên lâu, rồi một đám mấy chục tên công sai hung hục xộc vào. Đám người này bước đi như hổ, hành động như sói, vào trong tửu lầu liền cất chân đá tung mấy cái bàn, chẳng nói chẳng rằng đạp Trương Tiểu Biện, Tôn Đại Ma Tử và Tiểu Phượng xuống đất như diều hâu bắt gà, rút dây thừng, trói nghiến cả bọn lại.
Trương Tiểu Biện thất sắc, vội kêu: “Các vị trưởng quan xin giơ cao đánh khẽ, tiểu nhân vào thành bán ếch, không phải là gian tế của Việt khẩu, các vị bắt lầm người mất rồi!” Tôn Đại Ma Tử cũng hô to: “Oan uổng tày trời! Chúng tôi đều là dân lương thiện mà!”
Một tên công sai nghe vậy thì nổi giận, giơ tay tát Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử mấy cái nổ đom đóm mắt, máu mũi chảy ròng ròng, gãy mất mấy cái răng.
Tôn Đại Ma Tử vẫn còn muốn kêu oan, bỗng thấy trong đám công sai có một tay đầu lĩnh chỉ mặt chửi: “Ba người các ngươi tội đáng muốn chết mà còn dám nhiều lời hả? Mau ngậm mồm lại, ngoan ngoãn theo ông nội các ngươi về trình diện, may ra bớt chút đau khổ xác thịt. Vụ trọng án tày trời này cũng đủ cho các ngươi tan xác rồi.”
Thật đúng là: “Ngỡ lòng sắt đá nhưng đâu phải. Đến trước quan nha cứng hóa mềm.” Muốn biết sự thể tiếp diễn ra sao,xem hồi sau sẽ rõ.
Hồi thứ 10: Tạo Súc
Hồi trước nói đến đoạn bọn Trương Tiểu Biện vào Bát Tiên lâu gọi cơm rượu hết sức đắc ý, bỗng một đám công sai hùng hùng hổ hổ xông tới, chẳng nói chẳng rằng đạp cả bọn xuống đất. Con mèo đen bên cạnh thấy tình thế không hay, đớp ngay một con cá chép chua ngọt trên mặt bàn rồi lủi ra ngoài như gió, biến mất tăm mất tích trong ngõ sâu.
Bọn công sai tất nhiên chẳng thèm để ý con mèo ăn vụng cá kia, liền lục soát tại chỗ, lấy ra một bao bạc trắng phớ, tên đầu lĩnh đám công sai liền mắng: “Quân ăn cướp trời đánh, đây là bạc trong phiên khố của triều đình, bây giờ nhân chứng vật chứng đầy đủ, còn gì để nói nữa?” Nói đoạn hắn liền lập tức ra lệnh cho bọn thủ hạ trói nghiến bọn Trương Tiểu Biện, Tôn Đại Ma Tử và Tiểu Phượng lại, giải về tống vào lao, đợi quan gia xử trị.
Trương Tiểu Biện vốn tưởng được Lâm Trung Lão Quỷ mách cho một món phú quý, ngỡ là vật vô chủ, trước giờ chưa từng tìm hiểu kỹ lai lịch đống ngân lượng trong thành Đũa. Cả đời hắn, đến bạc vụn còn chưa được cầm vào tay, nói chi đến đĩnh bạc có đúc dấu của công khố, đâu ngờ lại rước phải cái họa tày trời này? Tới khi tên đầu lĩnh nói ra, hắn mới vỡ lẽ giật mình như người tỉnh mộng, hối hận cũng không kịp, bụng bảo dạ lần này đúng là tự mình dẫn lửa thiêu thân, vạn kiếp không ngóc đầu dậy được nữa, thực đúng là : ” Sục sôi muôn ý trong đầu, thảy đều nguội lạnh trước gàu nước băng”. Muôn ý niệm đều tiêu tan, trong long cũng không quên chửi rủa tổ tong mười tám đời nhà Lâm Trung Lão Quỷ.

Quý vị độc giả hẳn từng nghe, thành Linh Châu vốn là đầu mối giao thong trọng yếu của hai đường thủy bộ, lại là nơi thương lái hai miền Nam Bắc lưu thông hàng hóa tiền bạc, từ đầu đời nhà Thanh đã thành lập các phiên khố, toàn bộ tiền thuế tiền lương của hai tỉnh miền Nam Trường Giang đều chứa trong kho này, đợi tới khi đủ hạn số nhất định sẽ chuyển về Kinh thành. Con đường nơi đóng phiên khố ở thành Linh Châu tên là phố Ngân Phòng, có nhiều thợ bạc sống ở đó.
Tiền thu được thường là hào, cắc và bạc lẻ, khi nhập vào phiên khố cần phải đúc lại thành đĩnh. Bởi vùng Giang nam giàu có, lắm tiền nhiều của, các hạng thuế thu ở đây chính là tính mạng của triều đình, bởi vậy việc phòng vệ vô cùng nghiêm ngặt. Tường kho luôn có hay lớp dày chắc dị thường gọi là ” Hổ tường”, đồng thời đặt thêm cửa đồng vách sắt, mấy lớp khóa nặng, lại phái một tốp quan binh chuyên giữ kho.
Từ khi Thái Bình quân khởi sự ở mạn Quế Tây, Việt Đông, đánh ngược lên phía Bắc, thế mạnh như chẻ tre, các thành trấn quan trọng ở phía nam Linh Châu đều bị Việt khấu chiếm giữ. Các lộ binh mã hình thành thế bao vây hợp công Linh Châu, một lượng lớn tiền thuế trong phiên khố Linh Châu không kịp chuyển đi, để lại trong thành cùng với quân dân.
Thành Linh Châu từ xưa đã là vùng đất binh gia tranh giành, nên thành cao hào sâu, vững như bàn thạch, hơn nữa lái buôn trong thành rất nhiều, những người này đều không tiếc của cải, xuất tiền xuất lương giúp đỡ triều đình chiêu mộ lính dõng; trong thành cũng có rất nhiều súng Tây, pháo Tây, hỏa khí chẳng những nhiều vô kể mà còn hết sức hiện đại, Thái Bình quân tiến đánh mấy lần đều không thành. Nhưng cấc thủ lĩnh Thái Bình quân cũng đều biết trong thành Linh Châu có phiên khố, tiền bạc nhiều vô kể nên mấy trận trước tuy hao tổn không ít người ngựa song vẫn cố chiếm bằng được, có thể kéo quân tiến đánh bất cứ lúc nào.
Cũng bởi bạc trong kho thành Linh Châu quá nhiều, khó tránh khỏi có lắm kẻ động lòng tham, không chỉ có Việt khấu muốn tranh đoạt mà bọn trộm cướp phi tặc cũng muốn thừa lúc loạn lạc để vơ vét một mẻ, đám người này hoặc kết thành từng đám năm ba tên, hoặc độc lai độc vãng, hành tung xuất quỷ nhập thần, rất khó đề phòng. Để bảo vệ ngân khố, quan phủ đã phái binh lính tuần tra ngày đêm, đặt vô số gác canh trên phố Ngân Phòng. Thời loạn thì luật lệ càng phải chặt chẽ, hễ bắt được tên nào có ý định trộm bạc là quan phủ cho lăng trì bêu đầu, giết một để răn mười, quyết không khoan dung.
Trông coi đã nghiêm cẩn đến vậy mà gần đây bạc trong kho cứ liên tục biến mất. Lạ ở chỗ Hổ tường cao ngất, khóa sắt y nguyên, không hiểu là bọn giặc phương nào, dùng thủ đoạn thần thông gì mà qua mặt được bao nhiêu quan binh canh giữ, trộm đi bạc trắng trong khố mà chẳng để lại mảy may dấu vết.
Việc kho bạc bị mất trộm hết sức nghiêm trọng, quan phủ mất ăn mất ngủ, phàm là người ra vào khỏi thành đều bị tra xét rất nghiêm ngặt, đề phòng bọn trộm chuyển bạc đi, đồng thời đặt hạn kỳ, lệnh cho đám bổ khoái ở nha môn phải tróc nã cho được tên tặc nhân, tìm lại số bạc bị mất, bằng không sẽ liên lụy cả nhà. Xưa nay vẫn có câu ” quan cướp một nhà”, đám công sai bộ đầu vẫn thường câu kết với lũ trộm cướp cường đạo trong thành, quan nuôi dưỡng cướp, vì vậy tai mắt rất rộng, chỉ cần gió hơi lay, cây hơi động là đám ấy dò la ra được ngay. Hơn nữa, tai mắt bọn công sai cực nhạy, chúng tìm bắt mấy tên cưới chẳng khác gì mèo tìm chuột, chỉ cần đánh hơi thấy động một cái là tìm ra được ngay.

Ấy vậy mà đã trăm phương nghìn kế tìm tòi tra xét, vụ án lớn tày trời này không ngờ vẫn không có chút manh mối nào, đành phải bắt bừa mấy tên giặc cỏ cho đủ số, tuy đã bức cung đánh đập, bắt bọn kia khai nhận rồi, nhưng kho bạc vẫn tiếp tục bị mất trộm, thử hỏi phải ăn nói thế nào với quan trên được đây.
Đám công sai đang cuống quýt chưa biết làm thế nào, bỗng tên đầu lĩnh đám bộ khoái trong nha môn nghe phong thanh ở tiệm y phục nọ, có người dùng bạc đúc đĩnh lớn mua quần áo, dưới đáy đĩnh bạc có đúc dấy ấn của phiên khố Lĩnh Châu, thám tử đã nhìn rất rõ ràng, không thể sai trật được. Y liền lập tức bủa người đi khắp nẻo, cuối cùng bắt được cả đám ở Bát Tiên lâu.
Linh Châu vốn là một châu thuộc tỉnh Trực Lệ, nhưng vì những thành trấn phụ cận đã bị Việt khấu công hãm nên các quan viên trong tỉnh đều đã chuyển nhà, thêm vào đó là yêu cầu của thời chiến, vì vậy các đạo, các ty, thậm chí các cơ quan đầu não của toàn tỉnh như nha môn Đề đốc và nha môn Tuần phủ đều tập trung trong thành. Hiện tại, thành Linh Châu có cả Đề đốc và Tuần phủ. Giờ thì đám quan lại địa phương may mắn còn sống sót phải ra sức mà hiệp trợ Tuần phủ Mã THiên Tích trù bị tiền bạc lương thảo, chiêu mộ lính dõng để thủ thành. Việc mất trộm phiên khố đã sớm kinh động đến triều đình, Tuần phủ Mã đại nhân nghe tin bắt được phi tặc, liền không dám chậm trễ, đích thân cùng hữu ty thẩm vấn cho ra ngọn nguồn vụ án.
Chỉ thấy trên công đường đèn đuốc sáng lòa, bày la liệt các dụng cụ tra tấn, tiếng trống nha môn vang lên thùng thunfgm nha sai xếp hai hàng, đúng là ” Uy nghiêm còn quá Diêm La điện; Khiếp sợ nào thua Đông Nhạc đài”. Bọn Trương Tiểu Biện ba người quỳ trên đất thấy thế, mặt xanh như chàm đổ, người mềm như bún, thật là ” Có cánh thì cứ thăng thiên; Có móng, độn thổ, chạy liền vào hang. Đã không biết thuật chạy làng; Chớ rước rắc rối cửa quan công đường.”
Trương Tiểu Biện biết chuyện rất nghiêm trọng, đến nước này chỉ còn cách cố sức thanh minh mà thôi. Hắn quen thói lựa gió đưa thuyền, không đợi Mã đại nhân lên tiếng, đã vội nói: ” Xin các vị chớ nhọc dùng đến đại hình! Thanh thiên đại lão gia minh giám, chúng tiểu nhân xin không đánh mà tự khai hết.”
Mã đại nhân là kẻ già đời, nhiều âm mưu, tính quyết đoán, trước nay nổi tiếng là người giỏi tra khảo thẩm vấn, cũng biết phàm là ấn nặng thì đều phải tra hỏi ba lần bảy lượt, thẩm định kỹ càng mới được. Lão vừa nhìn tướng mạo Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử là biết ngay hai tên này chỉ là bọn lưu manh đầu đường xó chợ, nghĩ đến chuyện phiên khố mất bạc, bổ khoái nha môn tra xét nhiều ngày mà không có kết quả, lại chảng phát hiện được manh mối gì, thủ đoạn đó hẳn bọn trộm vặt không thể làm được. Vậy mà ba kẻ quỳ dưới công đường kia đều không quá mười sáu, mười bẩy tuổi, lại còn có một cô ả nhà quê, chỉ dựa vào mấy tên tẹp nhẹp bọn chúng thì sao có thể gây được đại án tày trời thế này? Nhưng đích thực là có soát được trên người chúng có số bạc phiên khố bị mất, xem ra bên trong ắt có uẩn khúc, nhất thiết cần phải tra hỏi cho ngọn ngành mới xong. Nghĩ đoạn, lão liền đập bàn thẩm vấn.
Trương Tiểu Biện hết sức ngoan ngoãn, hỏi một đáp mười, bộ mặt ra vẻ vô tội, kể hết một lượt từ đầu chí cuối. Quy củ nha môn thì hắn biết rõ, đầu tiên phải khai báo tên tuổi xuất thân, nhưng Trương Tiểu Biện, Tôn Đại Ma Tử ba người vốn là dân quê nghèo khổ, làm gì có tên có hiệu đâu chứ? Tiểu Phượng lấy theo họ mẹ là bà Vương quả phụ nên gọi là , Vương Tiểu Phượng, Tôn Đại Ma Tử là anh cả trong nhà, từ nhỏ mặt đã đầy mụn nên mới có biệt danh như thế, trước nay cũng không có tên gì khác

Nguyên quán Trương Tiểu Biện vốn không phải ở làng Kim Quan, mà là con nhà dòng dõi, đời ông tổ từng làm quan trong Kinh thành, về sau gia cảnh suy vi nên mới lưu lạc đến đây. Từ nhỏ, hắn đã được học lễ nghĩa, vốn cũng có tên tuổi đàng hoàng, chỉ vì lúc ấy quá nhỏ nên không nhớ được nhiều, giờ nghĩ kỹ lại thì dường như tên là Trương gì gì Hiền, chữ “Hiền” trong sách dạy thánh hiền, không phải là chữ”Huyên” trong từ “huyên thuyên”, tên đệm thì nhớ không ra. Sau này lưu lạc, cũng không rõ từ đâu mà làng Kim Quan đều gọi là “Quan lão tam”, người có tuổi trong làng thì gọi là “Tiểu tam”, bọn cùng trang lứa xưng huynh gọi đệ thì kêu là ” Tam ca, Tam đệ”.
Trương Tiểu Biện trước tiên nói mình là người giữ phép trọng đạo, hiểu thi thư lễ nghĩa, lại còn bảo về sau định đóng cửa đọc sách, thi đỗ làm quan để rạng rỡ tổ tông, ra sức vì triều đình, chứ những chuyện xấu xa bắt gà trộm chó thì không bao giờ chịu làm. Nhưng cũng chỉ vì đao thương không có mắt, chiến hỏa vô tình khiến cho làng Kim Quan bị phá hủy, bất đắc dĩ mới cùng hai người cùng lành là Tôn Đại Ma Tử và Tiểu Phượng cuốn gói rời khỏi quê hương, chỉ biết lên núi bắt ếch mang vào thành đổi ít gạo dầu mắm muối sống qua ngày.
Cũng bởi dạo gần đây nạn chuột hoành hành, đúng lúc mấy hôm trước cả bọn đào được một thứ dược phẩm quý hiếm, liền mang đến Tùng Hạc đường trong thành để đổi lấy một con mèo đen giỏi bắt chuột, mang về trông nom cửa nhà. Lúc ấy trời đã tối, cửa thành đã khóa, lại sợ đội lính dõng tuần tra tưởng là gian tế, mấy tên liền mượn tạm căn nhà hoang Hòe viên của Thiết chưởng quầy mà trú ngụ qua đêm.
Mã đại nhân nghe tới đó liền gật đầu, nói : ” Ờ… Hòe viên là nhà cũ của họ Lâu, bỏ hoang phế từ lâu rồi, nghe nói bên trong có ma, lại không được sạch sẽ cho lắm.”
Trương Tiểu Biện đáp: ” Đại nhân đúng là một vị quan tốt hiểu thấu dân tình, yêu dân như con, đến chuyện nhỏ như vậy cũng rõ như lòng bàn tay, trong Hòe viên quả có một con ma rất ghê gớm.” Đoạn hắn liền đem chuyện trong Hòe viên gặp lũ chuột bắt cóc trẻ con thế nào, thành Đũa trong đường hầm ra sao, cả tên quái tăng ăn thịt trẻ con thế nào, rồi chuyện hắn dùng con mèo đen đánh ngã quái tăng trừ hại cho dân, tất cả tình tiết đều kể hết một lượt.
Cuối cùng, hắn mới nói đến món bạc lớn trong lầu Đũa, bảo rằng không biết đõ là vật của quan phủ, cả ba chỉ vì tham món lợi nhỏ, tiện tau cầm một ít đem dùng. Riêng việc gặp Lâm Trung Lão Quỷ trong mộ Kim Quan và chuyện đào được cương thi mỹ nhân ở Ứng Trung Sơn thì hắn không nhắc đến một chữ nào.
Kế đó, Mã đại nhân lại thẩm vấn riêng hai người kia. Tôn Đại Ma Tử và Tiểu Phượng vốn không biết toàn bộ sự tình, tuy cung khai có chỗ sai khác nhưng về đại thể cũng giống với lời cua Trương Tiểu Biện.
Mã đại nhân tra hỏi đến đây, không khỏi ngấm ngầm kinh hãi. Bản thân lão kiến thức uyên bác, nắm rõ việc hình ngục cũng không thể ngờ được rằng vụ án mất trộm ngân khố lại phanh phui ra nhiều việc dị thường đến thế. Thành Linh Châu mấy năm nay thường có trẻ con mất tích, mãi đến giờ cũng không phá được án, có điều trước mắt đại quân Việt khấu đang vây thành, quan phủ không có thời gian truy lung mấy đứa mẹ mìn bắt cóc trẻ con. Chẳng ngờ việc này lại liên quan đến vụ trộm công khố, lão vội phái người đến Hòe viên điều tra, đồng thời tới Tùng Hạc đường triệu kiến Thiết Công Kê đến đối chứng.

Hiện giờ, không ai biết Thiết chưởng quầy đã đi đâu, sống không thấy người, chết không còn xác, làm sao đến công đường được? Chỉ có mấy tên người làm trong cửa hiệu và thủ quỹ bị giải đến công đường làm chứng, quả nhiên tên nào cũng khai rất khớp với Trương Tiểu Biện. Đồng thời, đám công sai được phái đến Hòe viên đã tìm thấy tòa thành Đũa trong hang động ngầm dưới lòng đất, phát hiện ra tất cả số bạc trộm trong ngân khố ở đó, lại thấy rất nhiều của cải, trang sức trộm từ nhà dân. Tên hòa thượng nọ tuy bị trung một gậy vào đầu hôn mê bất tỉnh nhưng chưa chết, cũng bị bắt giải đến công đường.
Mã đại nhân thấy vụ án nghiêm trọng, không dám chậm trễ, liền cùng với quân Bát Kỳ đang đồn trú tại Linh Châu đốt đèn thẩm án cả đêm. Tên hòa thượng nọ dẫu bị tra hỏi gắt gao nhưng thà chết không nhận vì hắn biết tội mình quá nặng, nếu cung khai ắt phải chịu cực hình tùng xẻo, thà chịu tra tấn trên công đường đến chết cũng còn nhẹ nhàng hơn.
Mã đại nhân trước tiên sai người đánh hòa thượng Chuột hai mươi hèo nặng. Thấy lão vẫn ngoan cố, một mực nói rằng mình là hòa thượng đi vân du hóa duyên, Mã đại nhân liền mắng: ” Thằng tặc tử to gan. Những chuyện phóng hỏa giết người toàn là thủ đoạn của bọn sư hổ mang như nhà ngươi. Bây giờ bốn phương đầy đao binh, dân tình lầm than, làm gì có thức ăn mà bố thí cho sư sãi, hơn nữa người xuất gia chỉ ăn chay niệm Phật, vốn trọng sự đạm bạc thanh bần, làm sao có được thể tạng phì nộn như ngươi được? Đúng là ăn thịt người mới như thế. Bọn hung đồ gian xảo như ngươi còn dám khua môi múa mép trước mặt bản quan hay sao? Tội lớn tày trời thế nào mà ngươi tưởng rằng che giấu được hay sao?” hòa thượng Chuột vẫn bao hoa: ” Thiện tai! Thiện tai! Bởi Phật tổ từ bi nên bần tăng càng đói thì càng béo đó thôi.” Mã đại nhân biết lão cắn răng chịu hình, nghĩ bụng: “Để bản quan xem xem ngươi có phải La hán đúc bằng gang thép không?” Đoạn lão liền lệnh cho tả hữu dùng đại hình tra tấn nhưng không được hại đến tính mạng của hòa thượng Chuột.
Bọn hình quan, trên công đường làm những gì? Đương nhiên chúng có nhiều thủ đoạn để đối phó với lũ ác tặc mà không cần đến đao to búa lớn gì. Chỉ thấy chúng lột sạch quần áo trên người hòa thượng Chuột, bịt mắt lão bằng một miếng vải đen, treo ngược lên trên, sau đó dùng sáp nóng rỏ vào gan bàn chân, cách này được đặt tên là ” Từng bước nảy son”.Gan bàn chân là nơi tập trung nhiều huyệt đạo, cực kỳ mẫn cảm, chỉ cần rỏ năm ba giọt sắp nóng xuống là đỏ tấy lên. Hòa thượng Chuột cho dù là Kim cương La hán cũng chịu không thấu, gào lên thảm thiết không ra tiếng người.
Quả nhiên, hòa thượng Chuột không chịu nổi cực hình, cuối cùng đành dốc miệng cung khai hết. Thì ra trên thế gian này có một đám giáo đồ tà ma, chuyên cắt sinh thực khí của người chết, phối với dược vật ngũ hành luyện thành đan dược để ướng. Phép đó gọi là Kim Cương thiền. Muốn luyện đến cảnh giới tối cao thì cần phải ăn thịt đủ một trăm sáu mươi thai nhi và trẻ con mới thành . Hòa thượng Chuột chính là một tên trong đám đó.
Đám người này hành sự hết sức quái dị, thủ đoạn thần bí, hơn nữa thường nuôi các động vật bên mình để sai khiến, to thì có lợn, dê, bò, ngựa; nhỏ thì tới côn trùng, sâu kiến, không loại gì không có. Dân thường không hiểu tường tận, ngoa truyền càng lúc càng kinh khủng, tới mức cho rằng bọn chúng là bọn “Tao Súc”, tức là đám người biết yêu thuật, phục thuốc để bết người sống thành súc sinh rồi bán đi kiếm lời. Kỳ thực, người luyện Kim Cương Thiền chỉ yếu dùng xác chết để luyện bùa thuốc, rồi cho thú vật ăn vào khiến chúng bị nghiện dể chịu sự sai bảo.
Hồi thiên hạ thái bình, trọng lễ nghĩa, văn hóa, ít khi tìm được xác chết vô thừa nhận, đám nghiệt đồ đó phải lén quật các phần mộ mới. lột da róc thịt xác chết ra để luyện tà pháp. Nay có loạn Việt khấu, giặc cướp ở các nơi nổi dậy như ong, sau mỗi lần chiến sự nổ ra, thi thể vô chủ nằm ngổn ngang khắp nơi, tà phái sắp tuyệt diệt này lại có cơ hội phực hưng.
Lão hòa thượng này họ Phan nên còn gọi là “Phan hòa thượng”. Phan hòa thượng bản tính ngu độn, không biết chữ, cũng chẳng biết vì sao có tật nghiện xây lầu dựng tháp. Sau khi lão xuất gia, lão giết thầy thiêu chùa, trở thành một nhà sư đi hoang. Trước đây, lão chuyên bắt cóc trẻ con đem bán, thân thể lão béo phì như một con chuột trắng, nên còn có biệt danh là hòa thượng Chuột. Lão này chuyên giả bộ ngây ngô như bọn trẻ con lên ba để dễ gây án ở Linh Châu và các vùng lân cận. Về sau, khi tập Kim Cương Thiền, biết thủ đoạn khống chế chuột, lão liền nấp trong Hòe vên hoang vắng bế quan t u luyện. Lão sai khiến đám chuột lớn trộm bạc trong công khố nên quan binh có nằm mơ cũng không thể ngờ rằng bạc lại bị chuyển ra qua hang chuột.
Hòa thượng Chuột chẳng hề coi trọng quan phủ là gì, tuy bị giải đến công đường chịu nhận đại hình tra tấn nhưng thái độ vẫn hết sức ngạo mạn. Lão nói, tuy rằng thất thủ bị bắt nhưng chẳng qua do sơ ý trúng phải quỷ kế, cùng lắm một chết mà thôi, hai mươi năm sau sẽ lại thành một trang hảo hán. Nhưng trong ngoài thành còn có nhiều đồng bọn của lão, bổ khoái của nha môn dẫu có tài thánh cũng không đối phó nổi phép tiên của “Tạo Súc”, sớm muộn bạc trogn ngân khố cũng sẽ bị lấy hết dể dâng lên Tổ sư gia.
Mã đại nhân nổi giận lôi đình, thương nghị với Đề đốc Đồ Hải rằng: ” Thiên hạ này, những kẻ yêu nhân luyện tà thuật là bọn xấu xa đáng tởm nhất. Từ xưa các vị hiệp khách đã chuyên đi tru diệt lũ này. Sử sách chép rằng chúng nó đã tuyệt tích từ thời Ngũ đại, thế mà tới triều ta ngày nay vẫn còn đám nghiệt đồ dư đảng. Theo ý của Đề đốc đại nhân, chúng ra nên xử trí lũ này thế nào?”
Đề đốc Đô Hải tuy là đại quan thống lĩnh quân vụ trong vùng , nhưng ngoài bản lĩnh đấu đá chốn quan trường, hắn chẳng có tài cán gì, thực sự là một kẻ ngu si hèn kém. Cả đêm thẩm vấn đã khiến hắn buồn ngủ díp mắt, đang ngủ gật thì bị Mã đại nhân hỏi, liền ngáp một cái, hít hít lọ thuốc xông cho tỉnh, nhỏm nửa mông, hướng về phía Bắc chắp tay nói: “Nước Đại Thanh chúng ta hồng phúc tày trời, đương kim Hoàng thượng càng anh minh thần vũ, sao có thể dung da đám thối tha làm chuyện hung ác này được? Nếu đã bắt được thì cần gì hỏi nhiều, đến sáng cứ theo luật mà xử quyết, tới lúc đó, chúng ta đến xem đổ máu cũng vui.”
Tuần phủ Mã đại nhân lập tức đón lời: ” Bản quan cũng có ý đó, hòa thượng Chuột này tuy chỉ là một tên trèo tường khoét vách thối tha, không đáng để Hoàng thượng bận tâm nhưng án này thực không nhỏ, pháp luật không thể dung tha. Hơn nữa, lão theo tà giáo, vả lại còn chưa bắt được lũ đồng đảng Tạo Súc, nếu tống vào tử lao lâu ngày chỉ e chúng giở thủ đoạn cởi gông phá ngục chạy trốn, hoặc sẽ tuyệt thực tự tận để tránh phải chịu cực hình. Chi bằng cứ cho nhanh chóng tronh vòng ba ngày, giải ra chợ lăng trì trước bàn dân thiên hạ, giã nát xương cốt để giương cao pháp độ của triều ta.”
Kỳ án trong Hòe viên thành Linh Châu tạm thời kết thúc ở đây, thường có câu thơ rằng: ” chớ bàn họa phúc hôm nay;Dữ lành sau nữa ai hay thế nào?” Hẵng còn chưa biết bọn Trương Tiểu Biện sẽ bị quan phủ xử trí ra sao, lại cũng chưa rõ vì sao Lâm Trung Lão Quỷ lại bảo họ đi làm những chuyện dị thường như thế, rốt cuộc bên trong còn có những âm mưu kinh người nào khác?
Thật là: ” Đời loạn nào đâu còn lẽ phải; Trời gieo kiếp nạn dấy tai ương.” Muốn biết chuyện sau thế nào, hãy xem Tặc miêu quyển ba sẽ rõ

[Truyện Ma Voz Dài Kỳ] Tặc miêu – Quyển 3

Rate this post

Related Posts

About The Author