[Truyện Ma Voz Dài Kỳ] Tặc miêu – Quyển 3

Loading...

TẶC MIÊU QUYỂN THỨ 3: CHÓ NGAO THẦN

Hồi thứ 1: Đàm đạo nhân

Lại nói, tuần phủ Mã đại nhân là người từng trải việc quan, long ôm thao lược, bụng có mưu hay, hơn nữa còn có nhãn quang phi thường, nhìn xa trông rộng, khi gặp việc thì tùy cơ quyết định. Sau khi thẩm vấn xong, lão sợ đêm dài lắm mộng, bèn quyết định phải mau chóng xử trí, bèn hạ lệnh cho thủ hạ đem hào thường Chuột ta cắt đứt gân chân gân tay, dung khóa sắt xuyên qua xương tỳ bà, bắt đeo gong nặng, tống vào tử lao, sai ngục tốt cho ăn uống tử tế, đồng thời hạ lệnh phong tỏa tin tức, dự định trong ba ngày sẽ giải ra chợ lăng trì.

Đoạn Mã đại nhân sai người đưa Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử vào hậu đường, cởi dây trói, cho uống rượu áp kinh rồi hỏi han cặn kẽ. Mã đại nhân vốn là người biết dùng người, hiểu rõ rằng trong thiên hạ này, ngắn cũng có sở trường, dài cũng có sở đoản, cái nào cũng có chỗ dùng đến, ngay trong đám giả tiếng gà, ăn trộm chó cũng có lúc trở thành kì tài.

Khi biết Trương Tiểu Biện hiểu thuật xem tướng mèo thời xưa, Mã đại nhân đột nhiên nhớ ra một chuyện. Linh Châu trước nay có phong tục thờ Miêu tiên gia, nhưng nhiều người không biết được lai lịch của ngài, cho dù có biết thì cũng chỉ là lời đồn đại nơi đầu đường xó chợ, vị tất đã đúng sự thật. tổ tiên của lão lúc chưa phát tích từng làm thảo khấu, kết giao với đạo tặc trong thiên hạ, vì vậy rất rõ căn dơ của câu chuyện này.

Kỳ thực miêu tiên gia hồi đó không phải là đạo sĩ tiên cơ gì cả, mà chẳng qua chỉ là một tên trộm lành nghề chuyên trèo tường leo vách mà thôi. Vị thần ăn trộm này xuất thân từ một nhà dòng dõi đất Linh Châu, thường dắt theo con mèo khoang bốn tai, chuyên di ăn trộm những nhà giàu có bất nhân chia cho người nghèo, cứu khổ tế bần. Thủ đoạn của người này hết sức cao minh, đa phần đều là diệu thuật thần kì mà người thường khó tưởng tượng nổi, chợt đến chợt đi không để lại dấu vết, đến đám quan quân bổ khoái cũng không làm gì được.

Vị thần trộm này họ Đàm, ngày thường chỉ xuất hiện dưới bộ dạng đạo sĩ rách rưới đi khắp hang cùng ngõ hẻm bán thuốc đạo, vì vậy người ta gọi là Đàm đạo nhân. ông ta từ nhỏ đã hiểu thuật xem tướng mèo, khi đi trộm vàng cắp bạc ở khắp nơi đều nhờ vào con mèo khoang bốn tai mang theo bên mình. Con mèo này tinh nhanh phi phàm, giỏi trèo tường khoét vách. Các nhà phú hộ ngày xưa đều xây kín cổng cao tường, ngoài bọn gia đinh đi tuần còn nuôi nhiều chó dữ, hễ thấy có tiếng người đánh động là chúng sẽ xổ ra cắn xé. Mặc dù vậy tất cả đều bị Đàm đạo nhân qua mặt.

Đàm đạo nhân không phải là kẻ độc lai độc vãng. Đồng bọn của ông ta rất đông, vì ông ta là thủ lĩnh của đám trộm cắp thành Linh Châu. Phường trộm thường ẩn hiện trong đêm, mặc y phục dạ hành, đế giày bện rơm cỏ để đi không có tiếng động, trên mawyj che kín, miệng ngậm tăm để tránh cất tiếng nói.

Sau khi ngầm lẻn đến đúng tòa nhà định gây án, cả bọn phục ở chân tường không nhúc nhích, Đàm đạo nhân tóm gáy con mèo bốn tai, nhắm vào đầu tường rồi ném lên. Con mèo giặc đó nhẹ nhàng linh hoạt vô cùng, vừa chạm vào tường liền thò móng vuốt bám chặt không một tiếng động, sau đó mượn lực, uốn mạnh nảy vọt qua bờ tường cao.

Con mèo khoang bốn tai vào đến bên trong liền dụ đám chó dữ canh cửa sang một phía, lừa cho chúng ăn thuốc mê,. Lũ chó ăn phải thuốc mê xong, mèo khoang ta liền lên đến cửa sau, dùng móng vuốt rút then cửa để cả bọn vào khoắng vàng bạc, đồ đạc. Đàm đạo nhân nhờ vào ngón nghề đó mà gây ra rất nhiều đại án, chưa lần nào sa cơ.

Mạc dù vậy ông ta cũng có lúc thất bại. Đó là lần ĐÀm đạo nhân uống rượu cùng thủ lĩnh đảng cướp hồ Động Đình. Khi hai người uống say liền xoay sang đánh cược. tên thủ lĩnh nói rằng, thiên hạ đều hết sức khâm phục Đàm công có kĩ thuật thần diệu, lấy bảo vật như lấy đồ trong túi, nhưng dẫu cho ông có tài bằng trời cũng chưa chắc lấy được một vật. Nghe đồn trong Hoàng cung đại nội có một viên ngọc dạ quang do Phiên quốc tiến cống, to như mật tông, tinh khí sáng ngọt, trong đêm trông rạng rỡ như đèn, chiếu xa ngoài trăm bước. Viên ngọc đó là báu vât cảu hoàng hia, xưa nay vẫn cất giấu ở chỗ Thái hậu, đến Hoàng đế cũng không biết chính xác ở đâu. Nếu đàm đạo nhân có thể giở thủ đoạn lấy được viên minh châu đó cho cả bọn mở rộng tầm mắt, thì đám thảo khấu, trộm cướp trong khắp tứ hải ngũ hồ chúng ta sẽ nhất loạt tôn Đàm công thành “Đạo trung Bắc đẩu”(Bậc Thái sơn Bắc đẩu trong đám trộm cướp)

Kỳ thực đây cũng chỉ là lời nói vui trong bữa rượu nhưng Đàm đạo nhân vốn tính hiếu thắng, muốn tỏ ra hơn phân đấm đạo tặc ở hồ Động Đình, liền chẳng nói chẳng rằng, một mình ôm con mèo khoang bốn tai đi đền hoàng cung. Thời gian đó vào đúng lễ hội hoa đăng tết Nguyên tiêu, Hoàng thượng đưa Thái hậu xuất cung để thưởng đèn, bách tính chen vai thích cánh, tranh nhau ngắm mặt rồng. Đàm đạo nhân cùng con mèo khoang bốn tai ẩn mình trong đám đông, nhìn kĩ dung mạo của Thái hậu. Song, lúc ấy cấm quân đại nội phong cành nghiêm ngặt, dẫu ông ta to gan tày trời cũng không dám xông vào cướp ngọc, đành rập đầu trước con mèo thần bốn tai, cầu mong nó lẻn vào cung trộm Dạ minh châu để được mở mày mở mặt với đám thảo khấu Động Đình.

Con mèo khoang bốn tai ấy có trái tim có cửu khiếu, cự kì thông linh, có thể đọc hiểu tâm ý của chủ nhân. Nó chớp đôi mắt mèo rồi lao ra khỏi khách điếm, đi liền mấy ngày trong hoàng cung để thăm dò đường lối, tìm hiểu rõ quy luạt sinh hoạt của Thái hậu. Cũng không rõ làm sao con mèo nghĩ được một quỷ kế, nhân đêm khuya trăng lu gió lớn, nó trộm đâu được quả pháo hoa, ngậm vào moomg. Sau đó, con mèo nhân trời tối lẻn vào hoàng cung, tìm đến cung điện của Thái hậu. Nhìn trộm thấy lão Thái hậu đang ngủ, bọn cung nữ bưng đèn bên ngoài cũng đang gà gật, nó liền rùn mình lọt vào, tiến lại gần ngọn đèn trong cung, châm ngì pháo, rồi trốn vào góc tối, nằm im không nhúc nhích.

Giữa đêm khuya, trong hoàng cung đột nhiên vàng động tiếng pháo nổ đùng đùng khiến Thái hậu nương nương và đám cung nữ khiếp sợ tới mức hồn bya phách lạc, lăn lê bò toài tìm chỗ ẩn nấp. Tất cả đều không rõ chuyện gì, tưởng có người hành thích hoặc trời giáng tai ương, sấm sét đánh vào cung, liền hoảng hốt hô hoán thị vệ tới cứu giá.

trong lúc vội vã, lão Thái hậu cũng không quên viên Dạ minh châu, liền sai đám cung nữ dìu đến chiếc giường, lấy ra cái hộp báu trong ngăn bí mật mở ra xem. trong phút chốc cả phòng liền tràn ngập trong ánh sáng rực rỡ. Lão Thái hậu thấy viên Dạ minh châu chưa nhân lúc trời giáng sấm sét mà bay về trời, lúc ấy mới thở phào nhẹ nhõm, trong lòng cũng yên tâm phần nào.

Chẳng ngờ, con mèo khoang bốn tia nấp sau cột đã nhìn rõ, liền như tên cung lao vọt ra khỏi bóng tối, mở miệng đớp ngay viên Dạ minh châu trên tay Thái hậu rồi lật mình bỏ chạy, đúng là: “Đến, đi như gió giật; Ẩn, hiện tựa như tia chớp”. Loáng một cái con mèo đã chạy mất tăm mất tích trong điện chỉ còn trơ ra Thái hậu và đám cung nữ trợn tròn mắt há hốc mồm.

Con mèo khoang cướp đường trốn được, nhưng không thuộc đường trong hoàng cung lắm, đành cắm đầu cắm cổ trèo tường, vượt điện chạy thẳng theo một hướng. Thị vệ trong cung tuy đông nhưng đang vội hộ giá, truy lùng thích khách, ai biết đâu mà bắt một con mèo hoang?

Đến lúc này chợt xảy ra một việc. Con mèo khoang bốn tai chạy trốn lung tung, rốt cuộc chạy nhắm đến bên ngoài tẩm cung của Hoàng đế. Thời bấy giờ, các thứ dị thuật rất thịnh hành, trong đám ngự tiền thị vệ hộ giá, có một cao thủ địa nội tinh thông kiếm thuật. Người đó thoáng thấy ở đầu tường cách chỗ mình không xa có một bóng đne vút qua nhanh như gió, hơn nữa lại thấy thoáng một vật lóe sáng, dường như là một con mèo khoang to ngậm viên Dạ kinh châu, ya thấy sự tình kì quái, liền phóng kiếm truy sát.

Cũng may là mèo thần bốn tai nhanh nhạy cảnh giác, thấy một luồng gió lạnh ập đến, biết chuyện chẳng lành, bèn né tránh rất nhanh, nhưng cũng bị lưỡi kiếm hớt mất một tai và nửa mảng da đầu. Vết thương không nhẹ, máu chảy như suối, nhờ vào thân thể nhanh nhẹn mới có thể chạy trối chết thoát ra.

Đàm đạo nhân không biết tiếng mèo, không nghe được con mèo khoang 4 tai thuật lại sự tình, về sau nghe ngóng thăm dò chuyện hoàng cung mất trộm mới đoán ra đầu đuôi, không khỏi lấy làm ân hận. Ông ta với mèo khoang bốn tia tình như huynh đệ, nhiều năm nay, người và vật như hình với bóng. Chỉ vì hư danh làm lụy, nhất thời tức khí quyết đoạt báu vật trong hòang cung mà suýt nữa đã hại chết tính mạng của mèo khoang, giờ nghĩ lại, chút hư danh như phù du ấy thiết để làm gì?

Thế là Đàm đạo nhân không quay về gặp bọn đạo tặc hồ Động Đình nữa, tiện tay đem viên dại minh châu do mèo khoang bốn tai trộm về quăng xuống sông. Để lẩn tránh quan phủ truy nã, ông ta không hành nghề ăn trộm nữa, chỉ đi bán miêu nhi dược trị nan y tạp chứng sống qua ngày. Chẳng bao lêu sau, ông mai danh ẩn tích, lưu lạc giang hồ, vân du tứ hải, khong rõ kết cục ra sao.

Bách tính Linh Châu cảm công đức lấy của người giàu chia cho người nghèo của Đàm đạo nhân, liền dựng một ngôi từ đường để cúng tế, nhưng sợ quan phủ biết được, không dàm nói thẳng là thờ thần trộm Đàm đạo nhân nên nói tránh là thờ Miêu tiên gia, lâu dần trở thành phong tục cúng bái Miêu Tiên. Đền thờ rất linh nghiệm khiến các giai thoại đơm ra càng lúc càng nhiều, truyền đi truyền lại một hồi thành ra không thể phân biệt thật giả được nữa.

Mã đại nhân rất hâm mộ sự tích của Đàm đạo nhân, khâm phục thuật lạ có thể sai mèo làm trộm ấy lắm. Thời Ngũ đại có chuyện “dây đỏ trộm hộp” tới nay vẫm được coi là kĩ thuật trộm cắp vô song, nhưng nghĩ lại thì chẳng sánh được với sự thần thông của Đàm đạo nhân, chỉ tiếc rằng, quan phủ thời bấy giờ không ai biết được dị thuật kia để đến nỗi ông ta phải trà trộn trong đám thảo khấu giang hồ, tài ấy mà không dùng vào việc công, đem bản lĩnh đó để dò la tình hình giúp cho quan quân đoạt doanh cướp trại thì có lẽ đã lập nên công trạng xuất chúng rồi.

Mã đại nhân là người có chí lớn, định bụng nhân loạn Việt khấu tỏ rõ bản lĩnh chân thực của mình hòng được triều đình trọng dụng. Tính lão rất kiên nhẫn, xưa nay thông hiểu việc quân cơ, mấy năm gần đây lậ doanh luyện lính ở Linh Châu giáo chiến với ác liệt với Việt khấu mấy trận, hai bên có thắng có thua nhưng lão dần hiểu ra cái lẽ một cây làm chẳng nên non, vì vậy đã ra sức thu dụng kì nhân dị sĩ khắp nơi, không phân biệt cao thấp sang hèn.

Hơn nữa sau khi bắt được hòa thượng Chuột trong Hòe viên, Mã đại nhân mới phát hiện ra rằng, trong đại hạt Linh Châu còn có nhiều gian đảng của phái Tạo Súc hoạt động, xem ra bọn chúng đang có mưu đồ bất chính, muốn cướp ngân khố của triều đình. bọn này hành tung bí ẩn, thủ đoạn khác thường, không thể dùng cách thông thường để điều tra được. Chính vì vậy, Mã đại nhân định mua chuộc Trương Tiểu Biện và Tôn Đại MA Tử, một là coi trọng bản lĩnh xem hình đoán vật của họ Trương, hai là thấy hia tên này đầy vẻ lưu manh, không giopongs người nàh quan đi làm việc công, mồm mép lại nhanh nhảu, bụng dạ nhạy bén, phái bọn hắn đi dò là tin tức hoặc bí mật theo dõi thì dễ qua mắt được thiên hạ. Do đó lão mới phá lệ cất nhắc hai tên làm chức đầu mục trong nha môn, đồng thời phái một tên công sai nhanh tay nhanh mắt cho hai tên tùy ý sai bảo, chuyên đi thu thập manh mối đám đồng đảng cảu hòa thường CHuột.

Trương Tiểu Biện chỉ cần được tha tính mạng thì đã luôn mồm cầu giời khấn Phật rồi. Hắn không thể ngờ mình đã liên lụy vào cái án tày trời này, chẳng những không bị mảy may trách phạt mà còn được cất nhắc làm một chức bổ khoái chuyên bắt bớ trộm cắp. Những chuyện ngày trước thôi cho qua, nhưng xét thời bây giờ, đang lúc thiên hạ đại loạn, giặc cướp hoành hành, nói gì đến vương pháp của nàh quan, đến tổng đốc trọng thần còn bị kẻ cướp chặt đầu, huống chi cái bản lĩnh nhỏ bé của mình? Muốn đứng giữa hia dòng hắc bạch thì quả thực rất là khó, chỉ hơi sơ sảy là đi đời cái mạng nhỏ ngay.

Mặc dù vậy, thấy Mã đại nhân là người có thủ đoạn tàn độc, Trương Tiểu Biện nào dàm không tuân theo. Hắn ngầm ngầm tính toán, chi bằng cứ ngộ biến tùng quyền, tạm thời nhận lời, sau này có cơ hội sẽ chuồn khỏi thành. Thời này đúng là

: “Chiến chinh thiên hạ rối bời; Khác nào hào kiệt đang chơi cuộc cờ”. Trong cục thế ấy, việc thắng thua thành bại cướp di không biết boa nhiêu sinh linh vô tội, Trương Tam gia hắn là hạng cùng đinh, chỉ mong tới sự giàu sang chứ chưa từng nghĩ tới việc tham dự sự nghiệp anh hùng gì cả, càng không muốn trở thành quân cờ hay con chó trogn tay quan phủ.

Mã đại nhân nhìn thấu tâm tư của hắn, biết hia tên tiểu tửu này đều là đám thảo mãng, xuất thân nơi đầu đường xó chợ, phải dùng lời trung nghĩa thuyết phục hoặc hứa hẹn mối hời mới lung lạc được chúng. Lão liền nói: “Trước đây triều đình kén chọn hiền tài vẫn thường coi trọng kẻ xuất thân khoa cử nhất, ngoài ra nhưng người có ngón nghề khác như các ngươi đều không được trọng dụng. Cách làm ngặt nghèo như vậy đã làm mai một không biết bao nhiêu kẻ sĩ có ý lạ mưu hay. tới nay khi Việt khấu làm loạn, chính là lúc triều đình cần người. Các người đều có chút bản lĩnh, hà tất phải cam lòng chìm đắm trong đám bình dân dung tục, rốt cuộc đều nát cùng cỏ cây mà thôi. Thế gian dẫu có cung bắn điêu, kiếm giết rồng nhưng cũng cần phải có người sử dụng mới phát huy tác dụng được. Số mệnh các ngươi coi như có quý nhân phù trợ rồi, bản quan là người biết ngọc trong đá, thấy các ngươi quả nhiên có chút đảm lược, có thể châm chước đề bạt để dùng, vì vậy mới có ý cân nhắc cho các ngươi phen này. Chỉ cần các ngươi tiêu diệt hết đám yêu đồ Tạo Súc thì ta sẽ không tiếc càng bạc khen thưởng”
Tôn ĐẠi MA Tử vốn thẳng tính, tính những việc mạnh mẽ, tự cho mình là hảo hán. Gã nghe Mã đại nhân nói thế, liền dấy lên lòng hiệp nghĩa, vội quỳ xuống vái: “Lũ nghiệt đồ Tạo Súc ấy lẽ trời chẳng dung, nếu đã là việc nghĩa cử thay trời hành đạo, vì dân trừ bạo thì Tôn Đại Ma Tử tôi xin nghe quan gia sai bảo, nguyện liều chết đánh giặc”
Trương Tiểu Biện lại nghĩ: “Chưa biết rõ lão đại nhân là người biết ngọc trong đá hay chỉ alf mắt trâu biết cỏ, chẳng biết thế nào lại ngắm vào bản lĩnh xem tướng của trương tam gia ta? Nhưng bây giờ tốt nhất là chớ rượu mời không uống, uống rượu phạt, cứ tìm cách nhận thưởng của quan phủ đã, tới lúc thấy tình hình không ổn, tam gia ta tìm cách thoát thân cũng không muộn.”Quyết ý như thế, hắn bèn cùng Tôn Đại Ma Tử nhân chức làm bổ khoái.
ĐÚng là: “Những toan giết giặc lập công; Mượn tay bắt hổ trói rồng mới nên” Muốn biết sự thể thế nào, xem hồi sau sẽ rõ.
Hồi thứ 2: Một nghìn ba trăm đao
Lại nói, Tuần phủ đại nhân cắt đặt Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử làm bổ khoái bắt cướp trong thành Linh Châu, rồi ngoài mặt lại tỏ vẻ thương xót Tiểu Phượng cô khổ, cho cô ả lưu lại trong phủ, tạm thời làm a hoàn hầu hạ Mã phu nhân, kì thực muốn giữ người làm con tin, đề phòng hia người bọn Trương Tiểu Biện tìm cách chuồn êm.
Trương Tiểu Biện thông minh giảo hoạt, làm sao chẳng nhìn ra dụng ý đó? Trong lòng hắc thầm rửa Mã đại nhân trông thì cỏ vẻ từ bi, kì thực mưu mẹo sâu xa, toan dùng cướp trị cướp, ơợi dụng thuật xem tướng loài vật diệt trừ tà pháp Tạo Súc. Ẳ Tiểu Phượng ấy thì đáng giá mấy đồng cân chứ? Đợi đến khi Tam gia ta đánh được quả lớn phát tài, sẽ sớm chọn thời cơ cuỗm tiền cao chạy sa bay.
Tôn Đại Ma Tử lại nghĩ khác, cho rằng Mã đại nhân biết kẻ hảo hán, có ý đề cử trọng dụng họ, liền khuyên Trương Tiểu Biện rằng: “Mỗ thường nhủ thế này, huynh đệ chúng ta là loại người nào chứ? từ lúc sinh ra, cũng chỉ ăn cơm hẩm cháo hiu qua ngày, dẫu cho có vàng bạc trong tay cũng không biết tiêu, phát tài rồi lại cứ thấy không thoải mái cho lắm. Huống chi đống bạc giấu trong thành Đũa ở Hòe viên nhiều quá, chúng ta bỗng dưng vớ được một món tiền to như thế, chỉ e lẽ trời không dung. Đấy, quả nhiên ngay sau đó xảy ra chuyện,kinh động đến cả quan phủ, rước vạ vào người. Có điều, dù rằng mộng pú quý đã tan tành nhưng may mà trong họa có phúc, được Mã đại nhân coi trọng, ban cho làm bổ khoái nha môn. Chúng ta nhất địh phải tận tâm tận lực, không được vọng tưởng làm chuyện trái lẽ nữa”

Trương Tiểu Biện vốn chẳng thèm để ý đến mấy cái lí lẽ của Tôn ĐẠi MA Tử. Tục ngữ nói rất hay rằng: “Cửa nhà quan, mởn hướng Nam;giàu lý, nghèo tiền chớ vào quàng”, lại có câu:”Chèo đò, mở quán, kéo xe; thồ hàng, nha dịch chuyên ghè dân đen”. bọn công sai ở nha môm có “tam ban tứ khoái”, là sư tổ trong việc sách nhiễu nhân dân. bổ khoái chính là một trong ” Tam ban tứ khoái ấy, làm cái nghề này tuy cũng nhận được chút tiền hối lộ, nhưng đến khi chết làm gì còn mặt mũi nào nhìn liệt tổ liệt tông nữa, vui vẻ gì ma xăng cái đi làm cơ chứ? Nhưng trước mắt đao binh khói lửa đang dấy lên tứ phía ngoài thành, muốn trốn cũng không trốn xa được, Trương tiểu Biện đành ưng thuận làm bổ khoái bắt cướp, tạm thời như thế mấy hôm rồi tính sau.
Kể thì dài dòng chứ hớp mắt đã tới ngày mở pháp trường hành hình Phan hòa thượng. Mới tảng sáng, theo lệ cũ đối với tử tù sắp ra thụ hình, bọn ngục tốt trong lao vào chăm sóc cho Phan hòa thượng, lau rửa trên dưới cho sạch sẽ, tô ít phấn sáp lên hia bên ám, bày ra bốn bát thức ăn lớn những gà, vịt, cá, lợn, lại chuẩn bị một vò rượu, khuyên lão ăn uống cho no lê để còn lên đường.
Khi bị hạ ngục, hòa thượng Chuột dã bị cắt đứt gân. tuy đã thành phế nhân, lão vẫn toan tính phá lao vượt ngục đòa thoát chứ không ngờ rằng phải ra pháp trường nhanh đến thế. Lão cũng biết rằng hôm nay bất luận thế nào cũng không thoát khỏi cựu hình đau khổ, đành mặc hết mọi thứ khác, ăn một bữa cơm tử tù cuối cùng cho đã bụng.
Sau đó, liền có đám quan sai đến đón tù, đưa Phan hòa thượng ra khỏi nơi biệt giam, tống lên một cái xe cũi, rồi một đoàn hơn hia tẳm lính dõng áp giải diễu phố thị chúng.ĐÁm binh lính này mặt mày nghiêm nghị, sát khí đằng đằng, ai nấy thảy đều giương cung tuốt kiếm. trong tiếng thanh la phèng phèng mở đướng ầm ĩ, chúng chầm chậm đẩy xái xe tù đến giữa ngã tư giao nhau giữa hai trục dường chính trong thành.
Rất nhiều bách tính trong thành Linh Châu đã nghe phong thanh chuyện quan phủ bắt được tên cường đạo trộm ngân khố, chẳng những vậy, tên giặc này còn bắt cóc trẻ con ăn thịt nữa. Lũ trẻ mất tích mấy năm nay, cso quá bán đều bị hắn hầm lên ăn thịt, thực là đáng băm vằm thành muôn mảnh.
Toàn bộ người trong thành đều nghiến răng căm hờn, chỉ hận không thể ăn thịt, lột da tên ác tặc này. Thấy bảo, chính ngọ hôm nay quan phủ sẽ lôi hắn ra xử cực hình, ai nấy đều rủ nhau tới xem. Nguwoif tới xme thực sự quá đông, kín đặc như tường thành, nhốn nháo cả một biển người. Đến trên máy các căn lầu xung quanh cũng chật cứng những người là người, ai cũng muốn xem quan phủ sẽ xử trị tên ác tặc chuyên ăn thịt người ra sao.
Đối diện với pháp trường, có một lầu cao, hai tầng, góc nhìn khá rộng được bố trí là đài giám trảm. Quan đề đốc tiết chế quân vụ, giữ binh trấn thủ công khố Linh Châu Đồ Hải và Tổng lĩnh quân đoàn Luyện Mã đại nhân cùng ngồi giám trảm. Để đề phòng bọn xấu tới cướp pháp trường hoặc lũ Việt khấu nhân lúc rối loạn ngầm lẻn vào, quan phủ đã phái quân phong tỏa các cổng thành, lại điều thêm mấy doanh lính dõng tinh nhuệ, cầm hỏa khí ngầm phục ở xung quanh pháp trường chờ lệnh. Đúng là: “Phía dưới giương cung chờ mãnh hổ; Men sông giăng lưới bắt giao long”
Thời bấy giờ, khi hành hình phạm nhân, pháp trường để dặt ở đầu đường hoặc xó chợ, có ý để dân chúng tới xem cho xem cho biết phép nước uy nghiêm, không được khinh nhờn mà phạm tội. Nhưng thực tế thường khác hẳn mong muốn, việc hành hình nạn nhân lại trở thành một trò náo nhiệt, tai nghe mất thấy đúng là sôi động sôi nổi hơn hẳn diễn kịch xem trò. Vào những giai đoạn trấn áp khỏi nghĩa của nông dân, quan phủ thường sử dụng các hình phạt tàn khốc hơn nhiều so với lúc bình thường, vì vậy mỗi khi pháp trường được dựng lên, dân tình đi xem nô nức như trảy hội đầu xuân. Có kẻ nhàn dỗi vô sự còn không quản vất vả đầu hôm mờ sáng, đến từ sớm để chếm chỗ gần xem cho rõ, nào có mấy ai thực sự để ý đến hình luật và vương pháp triều đình?

Trương Tiểu Biện và Tôn ĐẠi Ma Tử làm công sai, được phái đến bục hành hình ở pháp trường để giám sát việc áp giải hòa thường CHuột. Bọn lính dõng vây quanh cái bục thành ba vòng trong, ba vòng ngoài nhưng dân chúng bốn phía đông quá, mặc cho chúng tha hồ đánh chửi, người ta vẫn chen lấn lên phía trước để xem cho rõ. Lúc ấy, dân tình chen vai thích cánh, chật cứng tới mức một giọt nước cũng không lọt, những người bị đè lấn thì kêu cha kêu mẹ, quang cảnh lòng đường trở thành một dám hỗn loạn.
Hai hôm trước, Trương Tiểu Biện đã tìm lại được con mèo đen bỏ trốn đang lẩn trong bầy mèo hoang ở Miêu tiên từ. hôm nay, hắn cứ tưởng nhân việc công mà được vòa xem một công cuộc náo nhiệt, không ngờ bị chèn ép ở cạnh xe tù cùng với Tôn Đại Ma Tử, đến nhúc nhích cũng không xong. Con mèo đen cũng bị chen lấn tới mức không còn chỗ dung thân, đành phải trèo lên ngồi trên mũ Trương Tiểu Biện xem trò.
Thấy Mã đại nhân và bọn quan viên đều nghiêm trang trên lầu, Trương Tiểu Biện tự nhiên cảm thấy rất bất bình. Nếu không nhờ Tam gia ta giở thủ đoạn ra thì quan phủ làm sao bắt được lão hòa thường này về chứ? Bây giờ công lao bị người ta cướp mất, dân chúng toàn thành có ai biết đến Tam gia ta đâu. Hắn lại nghĩ, đã là anh hùng thì không cần hỏi đến xuất xứ. CÁi chức bổ khoái không phẩm không cấp, nhỏ bé chẳng bằng vỏ đỗ hạt dưa, nhỏ như con kiến, có gì mà ghê gớm? Nếu Trương Tam gia ta có ngày thăng quan phát tài thì phải làm đến Thượng Thư, tổng đốc mới không uổng một phen gia nhập quan trường thế này.
Đang nghĩ ngợi lung tung, Trương Tiểu Biện chợt thấy đám người bốn phía rầm rì huyên náo như chợ, hết đợt này đến đợt khác, không hiểu ra làm sao. Hăn voioij nhìn về phía có tiếng reo hò, thì ra là ĐAo phủ Lưu ngũ gia của thành Linh Châu đang đem theo bốn thủ hạ đến. từ ông tổ sáu đời của vị Lưu ngũ gia này trờ xuống đều làm đao phủ của nha môn, truyền đến đời ông ta thì tài nghệ rất phi phàm, có thể nói là một đao phủ có tiếng của bộ Hình. Vốn trước đây, ông ta làm cống sai trong kinh thành, hai năm trước đã xin cáo lão hồi hương nên được điều về nguyên quán ở Linh Châu.
Tên đạo tặc này đã dùng yêu thuật dể trộm bạc trong ngân khố, lại còn sai chuột bắt con cháu nhà người ta làm thịt, đúng là một vụ đại án kinh thiên động địa. Chính vì vậy, trong cuộc hành hình hòa thượng Chuột hôm nay, quan phủ đã mời vị Lưu ngũ gia đã rửa tay gác kiếm này xuất thủ. Nghe nói, Lưu ngũ gia được chân truyền nên tài nghệ rất sức điêu luyện, cho dù là chặt đầu hay moi tim mổ bụng, ông ta đã động dao hành hình thì như nước chảy mây trôi.
Chỉ có những can phạm gây tội ác tày trời hoặc những tử tù có thân phận đặc biệt thì bộ Hình mới mời đến Lưu ngũ gia lão nhân xuống tay hành pháp, thế nên ngay cả hồi lão ở trong Kinh thành cũng hiếm lắm mới được trông thấy lão. Hôm nay, rốt cuộc cũng được xem lão thi triển ngón nghề trước mặt phụ lão ở quê hương nên đám khán giả cứ làm ầm cả lên. Trong con mắt người dân Linh Châu, Lưu Ngũ gia cứ như một tay kép hát đã nức tiếng khắp nơi vậy, từ lúc lão sải bước lên hình đài, mỗi cử động, mỗi bước chân của lão đều khiến cho đám đông dưới đài reo vang lên từng tràng vang dội.
Trương Tiểu Biện và Tôn ĐẠi Ma Tử đã từng nghe đến tiếng tăm hiển hách của bị đao phủ Bộ Hình Lưu Ngũ gia này, liền vội vã nhón gót, nghểnh cổ lên xem. Chỉ thấy Lưu Ngũ gia tuổi chừng hơn sáu mươi, thân hình to cao, mắt báo tròn xoe, râu hùm hàm én, tuy râu tóc đã bạc quá nửa nhưng tinh thần cẫn quắc thước, trán bóng láng như bôi mỡ, mặc một cái áo ngắn, dưới thắt một cái quần quây bằng lụa trắng tinh, ánh mắt toát lên sát khí, trông hết sức oai phong, đúng là một vị Tu là Ma quân giữa chốn nhân gian này.

Cái quần quây của Lưu Ngũ gia cũng không phải là vật tầm thường mà là vật ngự ban của Tiên hoàng. Bọn đao phủ bình thường từu trước tới nay đều để trần cánh tya hoặc một cái áo có miếng đáp trước ngực, buộc một cái tạp dề đen như bọn dồ tể. Nhưng Lưu Ngũ gia có tài nghệ điêu luyện, cho dù là chặt đầu lăng trì hay lột da moi tim, trân người và trên đao xưa nay không bao giờ vấy máu. Thanh đao là bảo đao tổ truyền, trên người lại mặc đồ do Hàng thượng ban, lối phục trang như vậy đã tự nói lên tài nghệ hơn người của lão, khiến cho chúng nhân đều thấy kinh sợ.
Lại nhìn đến bốn đồ đệ của Lưu ngũ gia, thật chẳng khác tứ đại Kim cương đầu thai giáng trần, cao thấp ngang nhau như cùng được gọt ra vậy, trông rất tề chỉnh. Cả bọn đều là những đại hán sức dài vai rộng, như hùm như hổ, bím tóc lớn, bóng mượt được vắt tròn qua đầu, cái áo có miếng đáp ngực viền đỏ nền xám được phanh ra một nửa, lộ ra phần ngực bụng xồm xoàm đầu lông đen.
Trên mặt cả bọn sư đồ năm người đều đằng đằng sát khí, ánh mắt lướt tới đâu, soi vào ai cũng khiến người ta phải toát mồ hôi lạnh. Thật đúng là : “Kẻ bé gan thì kinh muốn chết; Người bằng đá cũng toát mồ hôi”. Đám người vây xung quanh xem đều cảm thấy may mắn” May mà kẻ ở trên pháp trường hôm nay không phải là mình”
Lưu Ngũ gia dẫn bốn đồ đệ lên bục gỗ, chắp tay hành lễ với quan giám trảm trên lầu, sau đó khom người xá các phụ lão hương thân. lão cũng muốn khoe khoang đôi chút, đem đồ đạc sắp ra trước mặt thiên hạ. Tuàn là những thứ như Quỷ đầu đao để chém ngang lưng, Oan trường kiếm để moi tim, ngoài ra còn có những thứ hình đao, pháp đao như Đới câu, Đới thích… đều là những loại khí giới mà bách tính tầm thường không biết đến tên gọi. Thứ nào thứ ấy đều sáng lấp loáng, la liệt không dưới một trăm món, từng ánh sáng lạnh chớp lên dưới ánh mặt trời.
Lúc đó, hình quan đã xác thực xong nhân thân cảu tội phạm rồi tuyên đọc tội trạng, chiểu theo luật xử Phan hòa thượng tội lăng trì. yêu mà phỉ đồ như tên này, nếu không dùng cực hình băm vằm thành muôn mảnh thì không làm dịu cơn phẫn nộ của nhân dân, vì vậy lần này mời đao phủ của bộ Hình là Lưu Ngũ gia tới xẻo đủ một nghìn ba trăm đao. Đúng giờ ngọ ba khắc, sau ba tiếng pháp làm hiệu thì bắt đầu động pháp đao hành hình.
Người dân xung qaunh lập tức ầm ĩ cả lên, một là căm phận tên Phan hào thượng cực độ, hai là nghe nói xử phạt xẻo một nghìn ba trăm đao, đây là đại hình trước nay chưa từng có ở địa phương này nên ai cũng muốn xem Lưu Ngũ gia thi triển món nghề hành hình ra sao. Chỉ nghe đám người phía dưới bàn luận rất sôi nổi, có người bảo: “Cuối cùng cũng có một cuộc này, chúng ta chờ xem ra sao. Hình phạt tùng xẻo bình thường bất quá cũng chỉ một trăm hai mươi đao, bay giờ yêu cầu xẻo đủ một nghìn ba trăm đao thì phạm nhân mới được chết, những kẻ tài nghệ bình thường không làm được đâu. Trên đời này trừ Lưu Ngũ gia, thử hỏi còn ai có bản lĩnh đó nữa?”
Lại có người hiểu biết hơn một hút, nghe thấy thế liền lắc đầu: “Cái đó không hẳn! Lăng trì là hình phạt tàn khốc nhất của bản triều, bình thường thì cũng khó có dịp được trông thấy, nhưng bây giờ đang khi dẹp loạn Việt khấu, hễ bắt được phản tặc là quan phủ đều dùng hình phạt này xử trí cả. Chính vì vậy mấy năm nay chúng ta đều thấy cảnh người sống bị xẻo da lóc thịt cũng nhiều rồi còn gì. Nhưng ông có phát hiện thấy không, những đứa càng khỏe mạnh bình thường thì càng cắt được nhiều đao, cứ như thế cứ khoang hai trăm đao mới chịu chừa ra bộ xuong máu thịt bầy nhầy. Còn những đứa to béo mập mạp, chẳng biết cắt vào đâu, xẻo một cái là ra một đống mỡ rồi, giống như thằng hòa thượng này ấy, to tai béo mặt, xẻo được hia trăm, ba trăm đao là giỏi lắm rồi, muốn lóc đủ một nghìn ba trăm đao không phải là dễ đâu. Chỉ e thanh danh một đời của Lưu Ngũ gia, tới lúc già lại bị phế bỏ ở pháp trường Linh Châu này mất thôi”

Trương Tiểu Biện bị chen lấn trước bục, nghe mấy người bàn tán không thôi, thấy bọn họ đã không hiểu biết gì àm còn ba hoa, hắn cất giọng mỉa mai: “Một ngìn ba trăm đao thì kể làm gì? Bản triều nagyf nay đến đại hình ba bốn nghìn đao còn có nữa là. Đao phủ bộ Hình ở Bắc Kinh ai nấy đầu có tuyệt kĩ tổ truyền cả, người ngoài làm sao biết được. tam gia ta hồi ở Bắc Kinh đã từng tận măt stroong thấy đám đao phủ bộ hình luyện tập trân các laoif gia súc như bò, ngựa, lạc đà, càng luyện về sau càng áp dụng lên các loài nhỏ hơn, nhưng số đao không được giảm. Luyện tới mức thi triển được trên gà, vịt, ngan, ngỗng, chuột, thỏ mới có thể xuất sư”
Mọi người làn đầu nghe thấy chuyện đó, không biết hắn nói thật hay đùa,c so mấy kẻ ngu ngơ còn ra sức tán thưởng, không ngờ vịc ông sai trẻ tuổi anfy lại từng trải đến thế, có người thì cho rằng chuyện của Trương Tiểu Biện toành thứ vớ vẩn. Bọn súc sinh lắm thịt nhiều da làm sao có thể so sánh với phậm nhân được? Hơn nữa, dẫu cho đám đao phủ bộ Hình có tài nghệ bằng trời cũng làm sao cắt được mấy nghìn đao trên thân con chuột? Lăng trì hoàn toàn không phải băm thịt, mà đao phủ phải cắt đủ một nghìn ba trăm đao, mỗi miếng cắt da phải có cả da cả thịt, hơn nữa tới khi cắt đao cuối cùng, phạm nhân cũng chưa được đứt hơi mà chết, bằng không đao phủ sẽ phải chịu tội thay cho phạm nhân, thiếu bao nhiêu đao thì sẽ phải gánh bù vào bấy nhiêu.
Mọi người bàn tán sôi nổi mãi không thôi. Bỗng nghe một tiếng pháo hiệu đùng đoàng, biết là giờ ngọ ba khắc sắp tới. Đúng là : “Diêm vương hạ chỉ câu hồn; Võ Thường hai quỷ lên luôn bắt về. Muốn biết Lưu đao phủ tùng xẻo hòa thượng Chuột một nghìn ba trăm đao như thế nào xem hồi sau sẽ rõ.
Hồi thứ 3: Lăng trì
Xưa nay oan đền nợ trả, giết người đền mạng, thiếu nợ trả tiền, đều là cái lẽ nhân quả, có nói cả năm cũng không hết, ngay cả chuyện phải chịu đau khổ khi thụ án chịu hình cũng từ đó mà ra, muốn thoát cũng không được. Lại nói, khi một phát pháo hiệu nổ lên, thấy sắp đến giờ Ngọ ba khắc, Lưu ngũ gia liền bảo bốn đồ đệ trợ thủ bắt Phan hòa thượng trong xe tù ra, trói trên bục gỗ hành hình ở pháp trường. Giữa hình đài có một cái giá gỗ hình chữ Kim, các vòng sắt cột trụ còn loang lổ những dấu máu thâm đen, vết tích của các cuộc hành hình trước đây.
ĐÁm đao phủ chẳng nói chẳng rằng, trói chặt Phan hòa thương lại rồi lột sạch quần áo tù trên người gã, sau đó cắp hình trụ và pháp đao đứng một phía chờ nghe lệnh. Lúc ấy, tiếng pháo thứ hai vang lên, người xem xung quanh pháp trường đều biết rằng chỉ vài trong phút chốc nữa thôi, tên ác tặc sẽ bị xẻ phanh thành muôn mảnh, ai nấy chăm chú theo dõi, tiếng ràm rì lập tức lắng xuống.
Lưu Ngũ gia thỉnh quan giám trảm khoanh khuyên chiếu theo lệ cũ, vái chào rồi nói: “Hôm nay Lưu Ngũ đưa Phan gia lên đường, chúng ta trước không thù sau không oán, đao phủ theo luật chấp pháp hành hình cũng là do lệnh trên sai khiến, thoái thác không được. Nếu chúng tôi có chỗ nào không chu toàn, cũng mong Phan gia lượng thứ cho”
Phan hòa thượng đã rơi vào tình cảnh này, mọi ý niệm đều đã tiêu tan, nhưng trước ánh mắt soi mói của mọi người, lão vẫn muốn tỏ ra mình hảo hán cứng cỏi. Khóe miệng lão nhếch nhếch từng chặp, lộ ra một nụ cười quái đản, nói: “Nghe đại danh Lưu Ngũ gia của bộ Hình từ lâu, không ngờ lại chết dưới đao của lão, âu cũng là số kiếp của bần tăng. Trước khi thụ hình, bần tăng không có cần xin gì, chỉ mong lão xuống tay nhanh ngọn một chút, để ra chết cho được sung sướng. Sau khi xuống tới suối vàng, ta sẽ khong quên tụng kinh cầu phúc cho lão…”

Lưu Ngũ gia không buồn chớp mắt, lạnh lùng nói: “Xưa nay Thánh hiền lập kỉ cương, nay có triều đình đặt phép nước. Phan gia đã gây tội lớn tày trời, gánh nợ máu hớn trăm sinh mạng, rốt cuộc bị oan hồn ám ảnh, quan phủ tróc nã nên phải chịu cực hình lăng trì. Hôm nay, một nghìn ba trăm đao này không được thiếu một đao. Ta khuyên thế này, ở dương gian phải chịu khổ băm vằm một chút, tới Âm phủ mới có thể sớm siêu thoát. Bây giờ nhân tiếng sáo thứ ba chưa nổ, còn điều gì dặn dò thì cứ nói ra.
Phan hòa thượng nghĩ đến nỗi khổ bị tùng xẻo một nghìn ba trăm đao, bất giác kinh hồn vỡ mật, bao nhiêu oán độc trong lòng trỗi dậy, im lặng một lúc mới nói: “Bản tăng tính vốn từ bi, thích nô đàu với trẻ, từ khi tu luyện Kim Cương thiền tới nay, đã ăn hơn một trăm hai mươi thai nhi, đồng tử, chính là một nghĩa cử tốt đẹp để siêu thoát cho chúng sang thế giới Tây Thiền cực lạc. ta sắp sửa luyện thành chính đạo, đạt tới pháp thân xuất thần nhập hóa, nào ngờ bị bọn tiểu tặc phá hỏng pháp tướng, khiến ta rơi vòa tay quan phủ chịu một trận tra tấn rút gân khóa xương. hôm nay chúng lại giở thủ đoạn tàn độc để bản tăng phải chịu nỗi khổ bị xẻo thịt muôn mảnh…”
Phan hòa thượng càng lúc càng cay độc, há miệng nhe răng nói: “Ta cề âm phủ cũng sẽ hóa thàn ma quỷ tìm từng tên trong cá ngươi để đòi mạng trả thù. Lưu Ngũ gia ngươi chẳng qua cũng là loại chó diều cầm đao cho bọn quan lại. Con bà nhà ngươi, ngươi và thằng cẩu quan Mã THiên Tích đa hại bao nhiêu tính mạng hảo hán rồi? Các ngươi sẽ không được chết yên thân đâu, ông nội các ngươi sớm muộn gì cũng từ cõi âm về đòi mạng các ngươi”
Lưu Ngũ gia đã hành hình vô số tội nhân. Lũ phạm nhân thụ hình hoặc van xin cầu cứu quan phủ hoặc là mắng chửi không dứt lời, lại có kẻ im lìm không nói. thậm chí còn có tên đến mức đái ỉa ngay trên pháp trường. Lão vốn đã khá quen với những chuyện như thế này, chẳng bao giờ buồn để tâm, liền mặc cho đối phương chửi mắng thỏa mồm, không nói gì thêm với Phan hòa thượng nữa.
Người dân xem xung quanh đâ phần đều lấy làm tức giận, hôm nay thật không còn vương pháp nữa rồi. Lão hòa thượng Chuột này tội ác tày trời, thối tha đến thế àm khi bị xử quyết còn dám cuồng ngôn, tội thực đáng muôn đao giết chết. Lại có nhiều gia đình bị mất con cái thì hận hắn đến tận xương tủy, nhao nhao lượn đất đá ném vào pháp trường. Quan phủ phải chỉ huy lính dõng đến giữ nguyên cục diện, đề phòng loạn dân đến làm cản trở cuộc hành hình.
Lúc ấy, có rất nhiều khổ chủ nhao nhao chen đến phía trước, lên đút lót cho toán công sai đứng cạnh pháp trường, hòng mua được những mảnh thịt của Phan hòa thượng sau khi hành hình. Không phải ai cũng là người nhà của những đứa trẻ bị Phan hòa thượng bắt cóc, mà còn có nhiều người nhà bệnh nhân. Xưa nay, dân gian thường bảo, một khi pháp trường có án tử hình, máu thịt của phạm nhân đều có thể làm thuốc chữa bách bệnh. Chính vì vậy, bọn công sai đều nhân cơ hội này ăn của đút, chỉ có điều không dám mua bán ngang nhiên mà thôi.
Đang lúc ồn áo hỗn loạn, bỗng nghe phát pháo hiệu thứ ba nổi lên, Lữu Ngũ gia thấy đã đến giờ ngọ ba khắc liền lập tức động thủ hành hình. Đầu tiên bọn trở thủ lấy ra một tấm lưới đen ngòm, xổ tung ra rồi quấn vào tay trái của Phan hòa thượng. Tấm lưới đen này không phải là lưới đánh cá thông thường mà đó là vật các đao phủ triều trước truyền lại, được bện từ tóc người và tơ tằm, chuyên dùng để đong đếm lượng thịt phải xẻo khi tử tù bị xử lăng trì với số đao quá nhiều. Chỉ thấy đường viền đen trên lưới ấn vào da thịt liền để lại vết hằn bằng một đồng tiền lớn.

Ngón nghề vốn đã thuần thục, Lưu Ngũ gia hô lên một tiếng: “Xem pháp đao đây” liền thò tay vào bao da, lôi ra hia ngọn khoái đao tựa như đao Bạt phong. hai ngọn pháp đao này, một dài một ngắn, đều có tên gọi. Ngọn dài hơn một thước gọi là “Xích thanh:; ngọn ngắn hơn một tấc, gọi là “Thốn thanh”, vốn được lưu truyền từ đời Bắc tống đến nay.Nghe nói, hồi đó chúng đã được dùng để xẻo thịt thủ lĩnh Phương Lạp của bọn giặc cướp vùng Giang Nam, lưỡi dao đúng là sắc lẹm, lạnh lẽo kinh người, thổi sợi lông qua cũng đứt. Số hảo hán bị lăng trì bởi ngọn đao này quả thực không đếm xuể. Dẫu là kẻ trung thần nghĩa sĩ ngậm oan nốt hờn hay loạn thần tặc tử đầy tội ác, hễ bị trói ra pháp trường, nhìn thấy hai ngọn khoái đao này đều không khỏi ớn lạnh, hồn bay phách lạc.
Lưu Ngũ gia hai tay cầm hai ngọn khoái đao, mồm niệm chú Ác sát. Lời chú vừa cất, lưỡi đao hạ xuống, chiếu theo vết hắn lúc nãy mà cắt từng đao một. Lão Phan hòa thượng này ăn rất nhiều trẻ con, toàn thân béo phì, da dẻ trơn mịn, không chịu nổi bị cắt xé lên đau đớn, the thé gào lên thảm thiết. Lưu Ngũ gia không thèm để ý, cứ lưỡi ngắn cắt thì lưỡi dài móc, lội ra từng miếng thịt như lá liễu, hia ngọn khoái đao vung lên hết sức thuần thục. Chỉ thấy lão xuất thủ như gió cuốn, bóng đao cứ nháy động liên hồi, trong phút chốc đã lóc hết một lượt thân hình to béo của Phan hòa thượng.
Bốn tên đồ đệ của lão đứng cạnh, lần lượt đếm từng đao. Trên đỉnh đài của pháp trường, máu thịt dầm dề, dân chúng trong thành Linh Châu, phần đông mới lần đầu thấy dao phủ bộ Hình dùng đao, không ai tưởng tượng được cách dùng đao nào nhanh như thế và phương pháp xẻo thịt nào gọn ghẽ như thế, qua thực khiến người ta không thể ngờ được, cả đám đều trợn mắt há mồm ngây ra xme như tượng gỗ. Bầu không gian giữa lòng đường lớn chỉ nghe tiếng đao phủ xéo thịt và tiếng ắc tặc gào thảm thiết, còn đâu cả ngã tư đều im phăng phắc. Một số người non gan, khiếp sợ tới mức vãi dái ra quần.
Làm đao phủ đương nhiên phải kiếm cơm bằng việc giết người. Lưu Ngũ gia quả nhiên tài nghệ cao cường. Từ năm 17 tuổi xuất sư thành tài, lão đã bắt đầu cầm đao hành hình ở pháp trường. Trong 40 năm hành nghề, số tử tù được lão tống tiễn không phải một vạn thì cũng tám nghìn, đúng là giết người như ngóe, kinh nghiệm hành hình hết sức phong phú.
Lần xẻo thịt hòa thượng Chuột này không như bình thường, bắt buộc phải cát cho trong một nghìn ba trăm đao, vì vậy Lưu Ngũ gia biết rằng, xuống đao phải vừa nhanh vừa chuẩn, lát cắt phải ngọn ngàng sạch sẽ, nếu không phạm nhân sẽ chết trước khi cắt đủ, hơn nữa lại còn không được cắt vào mạch máu của phạm nhân. Tên này rất to béo, mạch máu và các đường kinh lạc hết sức khó tìm, khác hẳn người thường, vì vậy lão phải tập trung hết tinh thần, vận hết sức lực toàn thân mà động thủ.
Phan hòa thượng cũng hết sức hung tợn, thịt trên người bị lóc đi từng miếng từng miếng khiến hắn vừa gào thét thảm thiết, vừa chủi mắng không ngớt, thốt ra toàn những lời nguyền rủa cực kì độc địa. Nhưng lời nói của hắn càng lúc càng yếu, tới khi cắt được tới hơn 1200 thì Phan hòa thượng đã không còn ra hình người nữa, lưỡi, mũi, tai đều bị cắt bỏ, toàn thân chỉ còn chừa lại hai cầu mắt là còn đang chuyển động, cứ đảo lộn liên tục nhìn chằm chằm vào ngọn đao trong tay của Lưu Ngũ gia.

Thật đúng là, ra tay như núi lở, hạ đao quỷ cũng kinh. Sau tẳm đao đầu được gọi là “lóc vẩy cá”, xẻo đi một lớp bên ngoài toàn thân trên dưới, 400 đao tiếp được gọi là “khoét thịt trong”, 300 đao cuối cũng có tên riêng, gọi là “Gỡ hồn phách”. Lần lượt đến đến đao thứ 1299, Phan hòa thượng đã bị lóc tới trơ ra bộ xương, chú Ác sát của Lưu Ngũ gia cũng đã niệm hết, lão đột nhiên dùng tay, thu hai ngọn đao không nhuốn chút máu lại, đổi lấy một con doa tai trâu nhọn có đính vòng sắt, rồi mời quan giám hình đến nghiệm hình.
Lúc đó da mí mắt của Phan hòa thượng cũng đã bị xẻo, tròng mắt không động đậy, ánh mắt đã xám như tro, không biết đã chết hay chưa. Vị quan giám hình bưng một cái gáo, vốc ra một nắm lớn muối hột trắng tinh rồi vẩy vào Phan hòa thượng. Phan hòa thượng bị xót, tròng mắt đột nhiên đảo dữ, chứng tỏ alox vẫn chưa chết hẳn.
Lưu Ngũ gia lập tức vung tay hạ đao. Con đao tia trâu phóng xuống, vừa chẵn số 1300 đao. Người xem bốn phía pháp trường đều ồ lên reo hò, khen ngợi ngón nghề của Lưu Ngũ gia, đến Mã đại nhân và Đề đốc Đồ Hải giám trảm trên lầu cũng ơhair ngầm giơ một ngón tay cái, tấm tắc khen ngợi.
Trên người Lưu Ngũ gia quả nhiên không vấy chút máu, hơi thở vẫn nhịp nhàng, vẻ mặt vẫn tự nhiên. Trong tiếng hô vang như sấm động, lão chắp tay vái một lượt rồi đi xuống võ đài. Mọi người đều vòng tay chúc mừng, tựa như muôn sao chầu nguyệt. Các nhà phú hộ giàu có liên tục mang rượu thịt tới khao, mong mượn lấy sát khí trên người vị cao thủ đem về nhà đuổi tà trấn quỷ.
Trương Tiểu Biện và Tôn ĐẠi MA Tử đúng bên cạnh xem mà chạnh lòng, cảm thấy Lưu Ngũ gia được uy phong như thế hoàn toàn dựa vào tai nghệ và bản lĩnh cao cường, huynh đệ bọn hắn biết bao giwof mới có dịp được diễu võ dương oai trước mặt chúng nhân như thế?Lúc đó, bốn đồ đệ của Lưu Ngũ gia, mỗi người một chân một tay xẻ thịt, lọc xương trên bộ tàn cốt của Phan hòa thượng. Lục phủ ngũ tạng bị lôi hết ra, vắt lên trên đầu mấy cọc gỗ chôn trên hình đài, còn lại đầu lâu, xương xẩu thì giã vụn thành mảnh nhỏ.
Có mấy người lần đầu đi xem hành hình, không rõ duyên cớ, liền hỏi Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử: “Xin thỉnh giáo hai vị quan sai, sao đã tùng xẻo ác tặc xong còn phải giã nát xương cốt? Thế nghĩa là sao?”
Trương Tiểu Biện liền thừacơ ba hoa rằng: “Lăng trì là cực hình tàn khốc nhất, nếu chẳng phải để trừng phạt kẻ đại gian đại ác thì không bao giờ khinh suất đem ra dùng. Phạm nhân chẳng những bị cắt xẻo nghìn đao mà đến cả xương cốt cũng không được đem đi niệm, phải giã nát rồi đem thiêu, vung vãi tro xương đi. Thực không dám giấu, tên ác tặc này chính là tay Trương tam gia ta đã xả thân bắt sống được. chư vị không biết hắn lợi hại đến thế nào đâu! Hòa thượng này có yêu thuật, nếu không đem băm vằm thi thể rồi hủy đi thì biết đâu hắn còn có thể giở ra yêu pháp gì nữa, hoặc giả sẽ hoàn hồn để hại người cũng nên…”
Đúng lúc đang nói, đột nhiên mặt đất nổi lên một trận gió âm, bốn phía cát bay mù mịt, vừa mới rồi mặt trời còn đang chiếu sáng mà chớp mắt đã biến thành một bầu không gian kìn kịt mây đen. Bách tính thành Linh Châu như trông thấy đại họa, ai nấy đều sợ thất sắc, kêu cha kêu mẹ tranh nhau chạy trốn, đúng là: “Trời mờ đất mịt không tia sáng; Quỷ khóc thần kêu kín lối mây”

Rốt cuộc trong trận gió âm có ác quỷ nào xuất hiện, xem hồi sau sẽ rõ.
Hồi thứ 4: Chó ngao thần
Đang nói đến đoạn sau khi Phan hòa thượng bị áp giải ra pháp trường chịu đại hình lột da tróc thịt băm vằm thành muôn mảnh, đám đao phủ lột hết lục phủ ngũ tạng của gã ra, vắt lên từng cái cột, tưởng sắp châm lửa đốt, bỗng giữa từng không nổi lên một trận gió âm, trong khoảng khắc mặt trời khuất bong, cả thành Linh Châu cát chạy đá bay, đất trời mờ mịt.
Ai nấy nháo nhác cả lên, mọi người ở phía Nam con phố đều tranh nhau trú vào các cửa hàng cửa hiệu ở ven đường. Con đường xuyên qua giữa chợ lập tức hiện ra nhưng ba mặt còn lại của ngã tư thì người dân vẫn tụ tập như rừng, không ai bỏ chạy cả.
Trước đây Trương Tiểu Biện thỉnh thoảng mới vào thành Linh Châu, chưa từng chứng kiến cảnh hành quyết tù nhân bao giờ. Hắn cứ tưởng sau khi nguwofi ta giã nát xương cốt châm lửa đốt là xong việc, nào ngờ thấy người ở phía Nam phố hốt hoảng giạt ra, ai nấy nem nép im hơi, ngướng mắt nhìn như đang chờ điều gì đó. Trương Tiểu Biện đoán biết, cuộc lăng trì hôm nay còn chưa kết thúc, đằng sau còn có một phen náo nhiệt nữa. Hắn không kìm được sự tò mò liền lại gần một gã công sai già hỏi han đầu đuôi.
Lão công sai nọ biết Trương Tiểu Biện là người được đích than Tuần phủ đại nhân đề bạt, sang định bụng kết giao, liền hạ giọng nói khẽ: “Trương bổ khoái không biết đấy thôi, mỗi khi thành Linh Châu chúng ta dựng pháp trường hành quyết, lúc cuối cùng thì không giống các vùng khác là thiêu hóa xác chết của phạm nhân, mà chỉ giã nát xương cốt, còn nội tạng và máu thịt thì xưa nay vẫn để cho bọn chó đói ở ngoài thành vào ăn. Ngài xem, khắp thành mây mù che khuất, nhất định là con chó Ngao thần ở Vạn Thi phần, Loạn Tăng lĩnh đang vào thành rồi, chỉ có kẻ nào không thiết sống mới dám gây ồn ào thôi”
Trương Tiểu Biện và Tôn ĐẠi Ma Tử nghe thấy thế thì ngẩn người ra, đồng thanh nói: “Thì ra là thế, chả trách đám đao phủ vắt tim gan phèo phổi lên trên mấy cái cột, hóa ra để đãi bọn chó ngoài thành!”
Lời tác giả
: Xưa nay người chết đều được yên nghỉ dưới lòng đất, gỗ làm quan tài càng dày thì người chết càng được yên ổn, bằng không chuột bọ đục khoét, mưa nước thấm vòa thì sẽ khổ không để đâu cho hết. Đen dủi nhất là những người chết mới được chôn xong xuôi đã bị bọn chó ban đêm bạt nấm, húc vỡ quan tài rồi sâu xé ăn thịt.
Rất nhiều người nghèo không thể mua được quan tài, có được manh chiếu cói bó thây là tốt lắm rồi, những nhà kha khá một chút cũng chỉ có thể mua loại quan tài “chó húc” ba phân gỗ bách. Trong thời loạn, thiên tai địch họa liên mien, đại bộ phận dân chúng đều không có gì để ăn, bọn chó lang thang hang cùng ngõ hẻm lại càng nhiều. mỗi lần đánh trận xong, những con chó đói lại lao ra bãi chiến trường bới ăn thịt sĩ tốt ngà ngựa nghẽo tử thương, con nào con nấy béo núc và hung dữ dị thường. Chúng thường kết thành bầy, ẩn hiện trong những ngõ bãi hoang vu. Người dân nghèo chết vùi qua loa trong những cỗ quan tài mỏng đều bị bọn chó đói đào mộ ăn sạch, tình cảnh thê thảm không sao kể siết.

Vùng xung quanh Linh Châu nổ ra chiến sự liên mien, mỗi phen kịch liệt, xác người chết đầu một nơi mình một nẻo, ngổn ngang khắp lối. Thánh hiền thời xưa từng nói: “Thu niệm tử thi vô chủ, vùi vào đất, là hành vi của người có lòng nhân”. Nhưng nhân tình thế thái bây giờ đâu còn được như xưa, ai mà chịu đi nhặt xác chôn thây? Huống hồ, người chết quá nhiều càng không thể đem chôn kịp.
Chỉ khi nào quan phủ ra tay ban ít tiền khao thưởng, người dân quanh vùng mới chịu đi thu nhặt xác chết đem vứt vào Vạn Thi phần. Cách sổng Nam thành Linh Châu vài dặm có một vùng núi hoang vu mênh mông. Nghe nói thời Xuân Thu- Chiến Quốc, nơi đây là một sơn cốc đúc kiếm, nhưng thời ấy đã quá xa xôi, tên vùng đất cổ không sao tra ra được nữa, cũng chẳng thấy lưu lại cổ vật hay di tích gì. Trong núi có một khe sâu, trước thời chiến loạn, đây là nơi người ta quăng thi thể bọn tù phạm bị chết trong ngục, lâu dần liền được gọi là Vạn Thi phần.
Mấy năm gần đây, số lượng người chết nhiều tới mức không còn chỗ chôn, quan phủ bèn chỉ địn Vạn Thi phần thành nơi chuyên chôn các thi thể vô thauwf nhận. Bất luận là chết vì thiên tai ôn dịch hay chết dưới đầu thương mũi kiếm, hễ là xác vô thừa nhận thì bất kể lai lịch ra sao cũng quăng vào hang hốc ở Vạn Thi phần. Cho tới giờ, không ai đếm xuể số tử thi ở đó, chie biết rằng, cả một vùng hang sâu núi thẳm toàn cỏ dại um tùm, xương phơi lởm chởm, cầy acso ẩn hiện, cô hồn yir tê, xưa nay không ai dám lảng vảng lại gần.
Bầy chó hoang hung tợn quanh vùng coi Vạn thi phần là kho lương thực của chúng. Hàng trăm hàng nghìn con chó hoang kéo bè kết đảng, tranh cướp các tử thi trong hang dẫn đến các cuộc tương tàn nội bộ, đống loại cắn xé lẫn nhau, một sống một chết. Những con bị cắn chết lập tức bị đồng bọn ăn sạch, trơ ra một đống xương trắng. Chính vì vậy, bầy chó hoang trong núi lúc nào cũng chỉ trên dưới vài trăm con, chưa trở thành đại họa cho người dân sống xung quanh.
Cho tới một năm nọ, không biết từ đâu, một con chó lớn lần đến. Nó cao to như con lừa, tiếng sủa như bò rống, thần uy lẫm liệt, mang phong thái của kẻ cầm đầu. Con chó đó hung ác vô cùng, thường cầm đầu bầy chó hoàng trong Vạn Thi phần, xông bừa vào làng để quật mộ. từ những xác chết trong quan tài cho đến gia súc trong thôn làng, thậm chí cả người sống đi lạc một mình, chúng cũng đều tấn công ăn thịt, them vào đó số lượng của chúng mỗi lúc một tăng, dần dần trở thành mói tai họa cho địa phương.
Người dân thiếu hiểu biết đều nói, con chó này hết sức thần dị, không phải vật tầm thường ở nhân gian, chắc hản là Hạo Thiên Khuyển của Nhị Lang chân quân ở đền Quán Khẩu giáng trần, thế nên đều gọi nó là Thần ngai, không ai dám xúc phạm. Cũng không rõ quan Án sát sứ tiền nhiệm trăn trở kiểu gì nghĩ ra một cách gọi là ” Lấy giặc cướp đổi dân lương thiện”. tựa như quan viên đã đạt tới một thỏa thuận với bầy chó hoang, để đánh đổi việc chúng sẽ không tàn sát những người dân thường vô tội, cứ hễ trong thành hành quyết tù phạm, sau khi xử trị xong thì không cho phép người nhà liệm xác mà vứt trên mặt đất cho bầy chó ở vạn Thi phần vào xâu xé, uống máu gặm xương tùy thích.
Từ đó trở đi, chỉ cần thành Linh Châu dựng pháp trường thì con Thần Ngao linh cảm thấy ngay. Từ tận chốn thâm sơn cùng cốc cách đó mấy dặm, nó đã đánh hơi thấy mùi máu tanh cảu cuộc hành hình, liền dẫn đầu bầy chó hoang, gào rú xông vào thành. Lại nghe đâu, bọn chó hoang ăn nhiều thịt người sẽ có cô hồn oán quye bám theo, đi tới đâu thì chỗ ấy dậy lên từng đợt gió âm.

Chính vì vậy, hầu hết nhwungx người hiểu rõ được lệ ấy vừa thấy giữ tầng không có quỷ khí ngút trời là biết cửa Nam đã mở để Thần Ngao tiến vào, họ liền vội vã nhường đường, nấp vào một bên quan sát. Quả nhiên, không bao lâu sau, trên con đường phái Nam một bầy chó đói khoảng mấy chục con lao đến, xúm xít xung quanh một con chó lớn, dữ tợn tột cùng.
Trương Tiểu Biện tuy mới lần đầu trông thấy con thần ngao những hắn đã khá thông hiểu bí quyết ” xem mèo đáon chó:, vừa nhìn thấy đã biết nó không bình thường. Sách Khuyên rkinh, phần “vạn vật thông tải” đã căn cứ vào hình dạng lớn nhỏ của loài chó mà phân thành ba loại lớn; to nhất gọi là “ngao”, cỡ bình thường gọi là “khuyển”, loại có thân hình bé mới gọi là “cẩu”. Mặc dù từ xưa đã có sự phân biệt rõ rang nhưng tới giờ người ta vẫn hay lẫn lộn giữa “khuyển” và “cẩu”.
Con chó dữ mà người dân vẫn gọi là Thần Ngao ấy to chẳng kém gì con lừa kéo cối say, trên mình có những đốm đỏ như vết máu, lúc nó chạy nhảy thì chẳng khác gì có một khối mây lửa bao bọc xung quanh, chỉ riêng điểm này thôi cũng có thể đoán được, nó không phải là chó ngao thực thụ mà chỉ là một con “khuyển” có thân hình to gần bằng con “ngao” mà thôi. Đây chính là chó của người Thát( Mông Cổ) từ thảo nguyên Mạc Bắc đến đây, gọi là “Thát tử khuyển”. Loại chó này có thể bắt sư tử, giết hổ dữ, truy sát chó sói, tính tình hết sức hung tợn, không rõ làm cách nào vùng Giang Nam lại có con vật thần dị này.
Trương Tiểu Biện không nghĩ tiếp nữa, hóng theo mọi người xem cảnh náo nhiệt. Chỉ thấy bầy chó sặc mùi xú uế ấy chẳng coi thiên hạ xung quanh vào đâu, cứ thế rùng rùng lao vào hình đài trong pháp trường. Cả bầy sói đói thấy máu tanh đầy bục lập tức dãi dớt chảy lòng thong quanh mõm, con nào con nấy thè cái lưới đỏ máu thở hồng hộc rồi đều nằm phục trước hình đài, vẫy đuôi, chẳng con nào dám qua mặt thủ lĩnh nhao lên gặm xương của hòa thượng Chuột.
Con Ngao thần tuy thân thể to lớn nhưng hết sức nhanh nhẹn linh mẫn. Nó gầm lên một tiếng, lao vọt lên không như mọc thêm cánh, nhảy phóc lên bục cách đó mấy chục bước chân, rồi ngoạm một miếng thịt phơi trên cột gỗ, nhồm nhoàm nuốt vào bụng,cúi xuống liếm máu me. Tên tử tù béo mập bị tùng xẻo xong xuôi, trên bục gỗ be bét mỡ và máu tươi. Cái lưỡi con Thần ngao dễ phải dài cả thước, cứ thè một cái là liếm sạch một mảng lớn, soàn soạt trong miệng, tỏ vẻ rất sung sướng khiến cho bầy chó hoang ở dưới thòm thèm khong chịu nổi.
Đến lúc con Thần Ngao liếm đã đời, nó mới ngẩng đầu tru lên mấy tiếng như bò rống, rung chuyển cả trời đất. Ngay lập tức bầy chó đói dưới bục cũng cất tiếng tru theo như người ta tung hô khi tiếp nhận thánh chỉ. Chỉ chwof có thế, con thì bò trên đất liếm máu, con thì gầm ghè giằng nhau miếng thịt. Đàn chó đói ăn uống cao hứng, con nào con nấy nhe răng kêu gừ gừ, ánh amwts dữ tợn.
Bách tính và dám lính dõng đứng xem xung quanh đều cảm thấy kinh sợ nhưng không ai tỏ ra thương xót. Trong thời địa suy đồi này, lòng người không yên, càng có gió tanh mưa máu, họ càng thấy thú vị, thậm chí nhiều người còn lấy việc người khác gặp họa làm điều mừng. Chí có những người còn giữ được lương tri mới ngầm than thở: “Chẳng biết triều đình đã làm việc trái elx gì mà khiến người đời phải chịu tội tàn khốc đến thế? Xem ra thiên hạ đại loạn khó mà yên được, trước sau gì cũng có tai họa giáng xuống”

Không quá thời gian uống cạn một chén trà, máu thịt trên pháp trường, thậm chí cả xương cốt bị đao phủ giã nhỏ, cũng đều bị bầy chó hoang gặm liếm sạch sẽ, ngay cả cặn bã cũng không còn chút gì. Đàn chó vẫn quanh quẩn không rời, gườm gườm nhìn đám quân dân bốn phía.
Trương Tiểu Biện và Tôn Đại MA Tử đều đờ ra nhìn, chợt nghe lão công sai đứng cạnh kinh hãi bảo:”KHông xong rồi, bầy chó chưa ăn no, có lẽ phải… “lời nói chưa dút, chợt thấy con Thần Ngao trên pháp trường nhảy vọt lên, chồm đến vồ ngã Lưu Ngũ gia đang đứng lẫn trong đám người. Mọi người chưa kịp hiểu ra chuyện gì, con chó ác đã moi hết tim gan phèo phổi của lão. Bọn chó từ phía sau lao ra như tên bắn, trong tiếng tru gào điên cuồng, chúng vồ vào đám người đứng xem àm cắn xé.
Quân dân Linh Châu như ong vỡ tổ, ai nấy tìm đường chạy thục mạng, nhưng người này chen lấn người kia chẳng còn chỗ nào mà cướp đường. Chỉ thấy tứ phía máu thịt tơi bời, trong khoảng khắc đã có hơn trăm người phơi xác tại chỗ, số người bị thương do chen lấn, giẫm đạp thì không kể siết.
Mã đại nhân và Đề Đốc Đồ Hải ở trên lầu nhìn rõ mồn một. Ten Đồ Hỉa trông thấy thảm trạng máu thịt tơi bời như vậy, sợ run lên, vội ôm đầu chui xuống gầm bàn. Tuần ohur Mã đại nhân cũng là kẻ vững dạ, thâm tấm vón đã muốn phá bỏ lệ cũ từ lâu nhưng chưa tìm được dịp thuận tiện, nay thấy đã ương mầm thành đại họa, muốn hối hận cũng đã muộn, vội võ ấn quát lớn: “Phản rồi! Phản rồi! tả hữu đâu nghe lệnh ta! Hễ gặp chó hoang trong thành là giết hết”
Con Thần Ngao vừa cắn chết Lưu Ngũ gia trên pháp trường nuốt mấy miếng thịt tươi, thần trí càng thêm điên loạn dữ tợn. Dường như nó biết trên lầu góc phố có quan lại bản địa, liền tung mình đạp vào quân dân đang chen chúc, khom người cúi đầu lấy đà rồi vận hết sức tung mình lên không. Con ác khuyển quả là nhanh nhẹn tuyệt luân, chẳng khác nào hùm hổ mọc cánh, đến mấy trượng tường bao cũng có thể nhảy qua chứ sá gì hai tầng lầu. Từ trên không nó trợn cặp mắt đăm đăm nhìn Mã đại nhân rồi lao vào vồ.
Mã Thiên Tích thất kinh, vạn phần không tưởng tượng nổi con chó lại hành thích mệnh quan triều định, trong cơn kinh hãi không khỏi hoảng hồn thất sắc. May mà lão đẫ đề phòng từ trước, mấy chục tên thân binh tùy tùng giắt hỏa khí trên người liền lập tức giơ sung ra bắn. Cứ tưởng làn đạn như mưa ấy đến thần tiên cũng khó thoát, ai nấy đều chắc ngẩm sẽ bắn chết con Thần Ngao tại chỗ, nào ngờ con chó ấy nhanh nhẹn không gì bằng. Thấy hảo khí lợi hại, đang lơ lửng giữa không trung, nó liền dung sức hông bụng uốn mình một cái, đột nhiên vọt lên trên mấy trượng nữa, đạp vào ngói tầng hai làm ngói đổ xuống rào rào. Không dừng lại ở đó bao lâu, nó đạp mái vượt tường chạy thoát. KHói thuốc súng chưa kịp tan thì đã không thấy nó đâu nữa.
Thật đúng là: “Một khí cá trạch thoát câu; Mất tăm mất tích biết đầu mà tìm”muốn biết sự thể thế nào, xem hồi sau sẽ rõ.
Hồi thứ 5: Tai mèo nhỏ
Lại nói về bầy chó hoang lớn ở Vạn Thi phần tràn vào thành làm náo loạn pháp trường Linh Châu, cắn xé sát hại quân dân, thương vong vô số, cuối cùng toàn bộ bầy chó đều bị lính dõng giết chết. Sau cơn hỗn loạn, ngã tư đường đầy những xác người, xác chó. Đáng thương thay tòa thành nổi tiếng phú quý phồn hoa, hôm nay biến thành mộ trường địa ngục quỷ khóc ma gào.

Tuần phủ Mã đại nhân từ trên lầu trông rõ cảnh tượng, nổi giận lôi đình, sai binh lính khóa chặt cổng thành, lại phái lính dõng truy sát con Thần Ngao khắp hang cùng ngõ hẻm. Nhưng một lúc sau có người tới phi báo, đã phát hiện thấy con ác khuyển vượt qua tường thành chạy thoát vào núi hoang.
Mã đại nhân vội triệu tập quan viên tới thương nghị rồi nói: “Con nghiệp súc hung tợn thật đáng khiếp thay. Hơn nữa, ta xem nó dường như đã có sự chuẩn bị từ trước, ý đồ hành thích mệnh quan của triều đình, chắc hẳn đã bị yêu thuật cảu bọn tạo súc khống chế. KHông sớm trừ diệt ắt hẳn sẽ trở thành đại họa về sau”
Theo lệ của đời Thanh, quan lại đồng cấp thì văn quản võ, Mã quản Hán, nhưng Đề đốc Đồ hải hoàn toàn không cso thự quyền ở Linh Châu, chẳng qua chỉ đứng bù vào lấp chỗ trống. trên thực tế, triều đình cũng chỉ phái lão xuống làm giám quân, mà kẻ này cũng rất u tối chẳng có năng lực gì. Vừa mời rồi lão thấy con Thần Ngao cắn chết Lưu Ngũ gia trong nháy mắt, lại dữ tợn nhảy lên lầu định hành hung, rồi tránh khỏi làn đạn súng đạn, vọt lên amis lầu tẩu thoát, không mảy may tổn thương, thực đúng là”chó trời”. Tinh thần Đồ Hải dã hoàn toàn bán loạn, chỉ còn cách thoái thác, giao mọi sự cho Mã đại nhân tòan quyền xử lí.
Mã Thiên Tích vốn chẳng hy vọng gì vị Đề đốc giá áo túi cơm này đưa ra được cao kiến gì, liền lệnh cho mọi người hiến kế. Có kẻ trợ tá nói: “bọn chó hoang ngoài thành này đều kết bầy đi lang thang, ban ngày không có nơi ở cố định, chỉ có ban đêm mới quần tụ trong sơn cốc. Chi bằng phái một vị tướng quân kiêu dũng thiện chiến, ban đêm dẫn theo người ngựa, mang nhiều hỏa khí tiến vào Vạn Thi phần rồi tiêu diệt chúng tận gốc”
Lại có kẻ khác bàn rằng: “Chó hoang tuy đông nhưng không đáng lo. Phéo dung quân có câu: bắt giặc nên bắt tướng. Trước tiên cần tìm cách trừ khử con chó dữu đầu đàn mới được. Nhưng con chó này được người ta gọi là Thần Ngao, tuyệt nhiên không hề giống bọn cho hoang bình thường. nó chẳng những mặt xanh nanh nhọn, dữ tợn vô cùng mà còn hết sức nhanh nhẹn, nhảy phắt cái đã vọt lên được mặt thành, nếu không phải là yêu quái trong” tây du kí” thì cũng là linh thú trong “Phong thần bảng”
giáng trần. Dù chúng ta phái nhiều dũng sĩ nhưng chưa chắc đã là đối thủ của nó”
Mã đại nhân gật đầu nói: “Nói cũng có lí! Vậy theo người nên làm thế nào mới được? Nếu đã có mưu hay thì cứ thẳng thắn trình bày để chia sẻ bớt lo âu cho bản quan”
Gã trợ tá đó thường cho mình là người biết nhiều hiểu rộng, nhưng từ khi về dưới trường Mã đại nhân thì vẫn chưa hiến được mẹo mực gì. Hôm nay thấy cơ hội đã đến, gã liền dâng lời rằng: “Tiểu nhân từng nghe một số người Tây Dương nói, ở nước Anh Di phương tây cũng có nhiều chó dữ hoành hành, vì vậy đất đó có một tục là những kẻ thân sĩ khi ra khỏi cửa sẽ cầm theo một cái gậy, gọi là Văn Minh côn, chuyên dung để đuổi chó. Chó hoang trên phố hễ trông thấy gậy này là chạy xa, không dám lại gần, vì loài chó bẩn sinh đã sợ gậy gộc, đó là bản tính trời phú cho tạo vật này”.
Mọi người đứng bên thấy thế đều bảo: “Anh Di đúng là một nước man dợ ở vùng biển hoang, chưa từng được chịu ơn khai hóa. Đừng trông chúng có tầu chắc pháo mạnh mà lầm, riêng cái việc đám thân sĩ khi ra đường phải cầm gậy đánh chó là đã không bằng nước Đại Thanh ta rồi. Cái thứ Văn Minh côn đó xưa nay chỉ dành cho bọn ăn mày khất thực thôi. Có điều, bản tính bọn chó đúng là sợ gậy gộc. Cho dù chó dữ mấy chăng nữa, cứ thấy gậy gộc là chờn mấy phần. Có lẽ nên cấp cho quân dân Linh Châu nhiều đoản con để đề phòng bọn chó dữ hại tính mạng”

Cả đám nhao nhoa hiến kế, nhưng nói đi nói lại chẳng có kế nào dung được. Đương lcus vô kế khả thi, chợt cso một thám tử vào bảo, đại quân Việt khấu chia làm mấy lộ đánh thành. Lần này chúng kéo quân bất ngờ và bí mật, đến khi phát hiện thì mũi tên tiên phong chỉ còn cách thành không đén ba mươi dặm. mã đại nhân vội vàng hỏi số lượng quân giặc, thám tử bèn bẩm báo: “Chỉ thấy quân giặc ào ạt đến đầy non chật núi, đao thương như rừng, giáp binh như mưa, không thể đếm được”
Tạm thời không kể tiếp việc Việt khấu đột ngột phát bịnh đánh thành và thành Linh Châu đã điều binh khiển tướng để phòng ngự ra sao, chỉ nói đến chuyện Trương Tiểu Biện bị đám dân chúng bỏ chạy tháo thân trên pháp trường xô đẩy, không tự chủ được cũng phải chạy theo. Chẳng biết Tôn Đại Ma Tử và con mèo đen bên cạnh chốn đi đâu nữa. hắn một mình chạy vào một lối ngõ hẹp, chẳng biết Đông Tây Nam Bắc thế nào,chỉ mừng thầm vì không bị bọn chó dữu cắn chết trong đám hỗn loạn. Thấy xung quanh không có ai, hắn liền ngồi xuống bậu cửa trước một ngôi nhà dân, thở hổn hển.
Trương Tiểu Biện nghĩ bụng, cứ tưởng trong thành sẽ được yên ổn một chút, nào ngờ lại hỗn loạn đến thế. Bầy chó hoang đột nhiên phát cuồng, cắn chết bao nhiêu dân chúng, đầy phố toàn xác người chết thảm nằm ngồn ngang, cho bằng mau chóng tìm Tôn Đại Ma Tử rồi rồi khỏi nơi thị phi này, chạy đến tận Kinh Thành mà tìm đường phát tài. Trong lòng đương toan tnhs, chợt nghe phía đầu đường có tiếng mèo kêu, hắn ngoảnh lại nhìn thì hóa ra là con Nguyệt ảnh ô đòng kim tuyến miêu. Trương Tiểu Biện đến gần con mèo rồi nói: “Con mèo tham lam này vừa chốn đi đâu chơi để Tam gia nhà ngươi phải mất công đi tìm, hay là ngươi theo ta đến Kinh thành một chuyến cho mở mang… ”
Hắn chưa nói dứt lời bỗng thấy bím tóc phía sau bị người khác nắm chặt khiến hắn đau tới mức phải thốt lên, chửi: “Không còn vương pháp hả?Con bà đứa nào ăn gan hùm mật gấu dám giật bím tóc của Trương tam gia ta chứ?”
Chỉ nghe phía sau có một tràng cười khô như xẻ gỗ vang lên:”Hà hà, bây giờ đã là Trương bổ khoái rồi, có còn nhớ cố nhân nữa không?” Trương Tiểu Biện nghe thấy biết ngay người đó chính là Lâm Trung Lão Quỷ, liền vội đổi giọng nói: “Tiểu nhân làm sao lại dmas queend dại ân đại đức của lão tiên sinh”
Trương Tiểu Biện thấy mũ tóc được tảh ra liền chỉnh đốn mũ áo, quay lại thi lễ. Chỉ thấy Lâm Trung Lão Quỷ nọ vẫn mặc trường bào rộng thùng thình, màu vải cũ kĩ rách rưới, cũng không rõ là trnag phục của triều đại nào nữa, trên mặt thì vẫn bịt kín bằng một cái khăn chỉ chừa ra 2 con mắt khô khốc, chẳng giống người đang sống chút nào. Lão mở miệng hỏi: “Trương bổ khoái. Món đại phú quý mà lão phu mach bảo ngươi nay đã lấy được chưa?”
Trương Tiểu Biện vốn đang rầu rĩ về chuyện món kim ngân châu báu mà lão già này mach bảo, tuy bảo là có nhưng đó là tiền trong ngân khố của quan phủ hại hắn ngon ngọt chưa thấy, đã thấy bồ hòn, phải liên liên lụy khổ sở một phen. Song thấy khí sắc cảu Lâm Trung Lão Quỷ, ba phần chẳng giống người, bảy phần tựa như quỷ, hắn đời nào dám xúc phạm, đành ngậm bồ hòn làm ngọt, làm ra vẻ đau khổ kể lại một lượt những chuyện vừa xảy ra, cuối cùng mới nói: “Lão tiên sinh mach bảo tuy đúng nhưng chẳng biết làm sao mà số của tiểu nhân không phát tài, vất vả một phen hóa ra công cốc, bạc vào tay còn chưa ấm đã bị đám công sai cướp ngay trên phố rồi”

Lâm Trung Lão Quỷ bảo: “Có hai người cùng nhà ngươi chạy nạn ở làng Kim Quan, một là Thảo đầu Thái tuế, có thể trợ giúp cho ngươi, kẻ còn lại chính là Táng môn Bạch hổ Tinh quân. Ngươi đem con nha đầu đó đi cùng thì làm sao có thể mở mặt được? Xem ra, số mệnh của ngươi không được phát ở chỗ này, nên mới xui khiến cho sao dữ chiếu mạng. Nhưng ngươi chớ có phiền não? Bình sinh lão phu đã gặp nhiều người rồi, nhưng những người có số phận, mệnh tưởng tốt đẹp trong thiên hạ chỉ e không ai hơn nổi họ Trương nhà ngươi đâu. Sau này, số kiếp của ngươi sẽ có nhiều biến chuyển.
Trương Tiểu Biện vừa nghe rằng sua này có thể mở mày mở mặt liền lập tức vui mừng ra mặt. Tục ngữ có câu rất hay rằng: “Rượu làm đỏ mặt, tiền làm mờ mắt”. lúc ấy, chẳng cần biết lời của lâm Trung Lão Quỷ thực hư ra sao, rốt cuộc lão có mưu đồ gì, hắn vội khom người cúi xuống lạy, khẩn cầu cao nhân đoán xem vận mệnh của hắn như thế nào.
Lâm Trung Lão Quỷ chẳng nói chẳng rằng đỡ Trương Tiểu Biện dậy, lôi xềnh xệch vào trong Miêu tiên từ trong ngõ Miêu nhi, đến một ngơi yên tĩnh không có bong người lão mới hỏi:”Trương Tam gia, ngươi nói cho lão phu nghe xem, chỉ hướng bình sinh của ngươi như thế nào?”
Trương Tiểu Biện xấu hổ nói tuột ra: “Ngoài tiền bạc ra không còn mong ước gì khác”, đoạn mặt dày mặt dạn tiếp lời nói: “Lão nhân gia chớ coi thường tiểu nhân là một kẻ vô lại rong chơi đầu đường xó chợ, bất học vô thuật, chẳng có tài cán bằng người ta, không giống một trang hào kiệt chọc trời khuấy nước. Tiểu nhân trong bụng cũng có chí lớn,cũng thường… thường muốn làm nên sự nghiệp anh hung lừng lẫy”
Lâm Trung Lão Quỷ cười lạnh rồi hỏi tiếp:”Ngươi thử nói xem, thế nào là anh hung hào kiệt?” Trương Tiểu Biện trả lời: “từ xưa tới any, phàm là kẻ anh hùng hào kiệt, đương nhiên không chịu ăn đời ở kiếp với ruộng nương cuốc thuổng, lại càng không thể làm trâu làm ngựa cho người khác được. Hành động cần phải khẳng khái trượng nghĩa, không bao gờ lấy tiền tài làm mục đích, khi chu du bốn bể thì vung tiền như rác, khi kết giao với bạn bè thì một lòng một nghĩa khinh tài, lập chí lớn, làm việc lớn, khiến tiếng thơm lưu truyền rộng rãi, như thế mới đúng là một anh hùng hào kiệt”. Kỳ thực, ý tứ của hắn hết sức rõ ràng, ấy là muốn làm được đại sự, trước hết phải có được tiền người, có câu rằng: “MẠnh vì gạo, bạo vì tiền” là như vậy.
Lâm Trung Lão Quỷ gật đầu nói:”Ờ… Quả nhiên là anh hùng không có dạ phàm phu, tuy lời của ngươi có chút ba hoa quá đáng, hơi không hợp với thiên đạo nhưng cũng chính là chỗ không câu nệ trong chí của kẻ hào kiệt. tuy nhiên, ngươi đã làm lỡ món bạc trong Hòe viên, mấy năm tới cung tài vận trong mệnh của nhà ngươi không tốt. Muốn được đại phú quý thì đúng là khó như đi lên trời… ”
Trương Tiểu Biện nghe thế thì lấy làm sợ hãi, vội nói: “Tiểu tử cũng chẳng thèm khát có được ngón tay điểm đá háo vàng của Lã Thuần Dương tổ dư, càng không dám hy vọng có được vận may lấy được Tụ Bảo cầu, chỉ cần được giàu sang sung túc, tiền như núi, vàng đầy chum. Nếu được thỏa mã ý nguyện thì ngày ngày sẽ xin thắp hương cũng bái Miêu tiên”
Lâm Trung Lão Quỷ nói:”Có được núi tiền hầm vàng thì đã là phú gia địch quốc rồi còn gì, bản thân nhà ngươi chưa chắc đạt được như thế. Có điều, tuy giờ đây cung tài vận nhà ngươi có phần sút kém, nhưng vừa hay lại có tướng tính chiếu mệnh, ứng vào điềm vô tận hanh thông. Nếu nhà ngươi chiu theo lời lão phu mà hành sự thì nội trong vòng một năm,nhất định sẽ trở thành võ quan thống lĩnh quân đội. tới lúc đó, lão phu sẽ tiếp tục mach bảo cho nhà ngươi con đường lên cao bay xa, cũng vô cùng oai phong phú quý”

Trương Tiểu Biện nghe thấy thế, tự dưng cương cốt toàn thân trên dười đều nhẹ nhõm đi mấy phần, đến nằm mơ hắn cũng chưa bao giờ nghĩ mình tốt số như vậy, vụ này quá nửa là do mộ tổ kết phát rồi đây, Đời này cứ có quyền là có tiền, nếu đúng là làm được đại tướng thống lĩnh, rạng rỡ tổ tong, khôi phục dòng dõi nàh họ trương thì còn gì phải nói nữa. Khong cầu làm được đến quan to như Tổng Binh, Đề đốc, chỉ cần làm một tướng quân đã oia lắm rồi. hắn liền vội thỉnh giáo Lâm Trung Lão Quỷ xem nên hành động ra sao.
Lâm Trung Lão Quỷ bảo: “Điềm thiên hạ thái bình thì khí đất từ Bắc xuống Nam. Tới nay loạn từ phương nam sinh ra tức là chủ về việc đất nước loạn lạc, đúng là thời cơ tốt để lập công kiến nghiệp. Cư như vận mệnh của nhà ngươi, chẳng những làm tới võ quan tam, tứ phẩm, mà ngay đến Thượng thư, Tông đốc cũng chẳng khó. Bây giờ, ở chốn thâm sơn cùng cốc ở phía Nam thành có một con Thần Ngao Mạc BẮc tụ tập bầy chó hoang lớn gây hại cho dân. Quan binh trong thành tuy đông nhưng mà khó bắt giết được nó, trên dưới toàn thanh Linh Châu ắt ăn không ngon, ngủ không yên. Họ Trương nhà ngươi muốn thăng quan tiến chức phải đoạt ngay lấy công đầu mới được”.
Trương Tiểu iện há hốc mồm. Hôm nay, chính mắt hắn thấy sự hung tợn bất phàm của con Thần Ngao, đến đao pủ Lưu Ngũ gia của bộ Hình ghê gớm nư vậy cũng bị nó phanh thây mổ bụng ngay tại trận. Huống hồ, con thú này chạy nhảy như bay, nguy hiểm khôn lường. Tạm chưa nói đến súng ống sáo thương, ngay cả đặt bẫy, hạ độc thì nó cũng phát hiện được ngay. Quan binh khắp thành còn chẳng làm gì nổi nó, Trương Tam gia nhà hắn lấy đâu ra phép thuật gì? Mấy hôm trước tuy đã dùng con mèo đen phá được tà pháp của hòa tượng Chuột. Nhưng ấy cũng chỉ là may mắn gặp phải hai loài tương khắc với nhau, nhưng xưa nay, có bao giờ nghe chuyện mèo hàng phục được chó đâu.
Lầm Trung Lão Quỷ chẳng thèm để ý đến Trương Tiểu Biện, lấy từ trong lòng ra một gói đồ, bên trong bọc toàn cá muối, thịt muối. Lão xé nhỏ ra rồi tiện tay vung ra nền đất. Bầy mèo hoang trong ngõ Miêu nhi đánh hơi thấy mùi tanh hôi liền từ bốn phương tám hướng nhao lại.
Trương Tiểu Biện không biết trong bụng Lâm Trung Lão Quỷ đang tính toán điều gì, cũng không dám hỏi nhiều, đành ngồi chồm hỗm trong một góc trố mắt nhìn. Sauk hi cho bầy mèo hoang ăn no nê, Lâm Trung Lão Quỷ mới bảo Trương Tiểu Biện rằng: “Cần mượn mấy món đồ của tổ sư gia bọn chúng để dùng nên phải đãi đằng chúng một chút, nếu không chúng sẽ không ưng chịu đâu!”
Trương Tiểu Biện càng tháy kì quái hơn. Nghe đồn Miêu tiên gia vốn là một đại bản lĩnh tày trời, nổi tiếng lừng lẫy trong thành Linh Châu, về sau ông ta ăn trộm Dạ minh châu trong hoàng cung, lo rằng bị quan phủ truy nã,nên mới mai danh ẩn tích, quy ẩn giang hồ. Trong miếu này làm sao lại có vật tùy thân của ông ta?
Lâm Trung Lão Quỹ gỡ mấy viên gạch xanh phía dứơi bệ thờ, lôi ra một cái hòm gỗ trông khá cổ kính, hình dáng màu sắc đều đã cũ mèm, chắc hẳn đã chôn dấu rất nhiều năm rồi. Mở hòm ra, bên trong chỉ có một bộ quần áo dài hành của bọn trộm cắp. Lão trông thấy mấy món đồ đó liền cất một tràng cười lạnh âm trầm, rồi nói với Trương iểu Biện: “Đây là trang phục mà Miêu tiên gia đã mặc hồi trước, tên là “Hắc Thiền”, nhẹ như long hồng, đồng thời có thể tránh được đao thương, vào lửa không cháy, xuống nước không chìm, là một bảo vật hiếm thấy trên đời. Nhưng quý hiếm hơn là cặp tai mèo con để tận đáy hòm kia. Có được cả bộ này, đêm này ngươi chỉ cần làm thế này, thế này… Muốn bắt giết được con Thần Ngao MẠn Bắc hung dữ thì cũng dễ như trở bàn tay, lấy đồ vật trong túi vậy”

Thật là: “Lập mưu bắt thỏ cung trăng; Những toan đoạt quạ ở ngang lưng trời”. Muốn biết chuyện sau thế nào xem hồi sau sẽ rõ.
Hồi thứ 6: Lò đúc kiếm

Lại nói về Miêu Tiên Đàm Đạo nhân năm ấy mai danh ẩn tích quy ẩn đi vân du tứ hải, một năm nọ quay lại quê cũ Linh Châu, thấy người trong thành lập một ngôi sinh từ cho mình. Ông thấy mình nào có tài đức gì àm được hưởng hương hỏa như thế, vậy là trước lúc ra đi, ông bèn đem tất cả bộ đồ hành nghề khi xưa chôn giấu dưới bệ thờ trong đền..

Chuyện này đã trải qua không biết bao nhiêu triều đại rồi, chẳng hiểu bằng cách nào mà Lâm Trung Lão Quỷ lại nắm rõ như trong lòng bàn tay vậy. Trương Tiểu Biện biết lão này nhất định là một nhân vật lạ lung, thầm nhủ là may cho mình đã gặp được một thần tiên thực thụ. Hắn như người nghèo vớ được của, như đang tối nhặt được đèn, vội vã thỉnh giáo cách đối phó với con Thần Ngao trong Hoang Táng Lĩnh. Nếu quả thực hắn có thể lập được công lao này, về sau lo gì không được một phen mở mày mở mặt, mọc mũi sủi tăm? Đúng là:

Không lâm cường địch quyết thư hùng,

Sao được trổ tài lập chiến công?

Tới lúc thanh danh lưu truyền bốn bể,

Nam
nhi thế ấy mới oai phong.
Lâm Trung Lão Quỷ bảo Trương Tiểu Biện mặc đồ dạ hành cảu Miêu tiên gia, rồi lấy trong đáy hòm ra một cái mặt nạ. Trên mặt nạ vẽ một cái mặt mèo, phía trên đầu còn gắn hai cái mặt mèo, sờ vòa thấy mềm mại dị thường. Lâm Trung Lão Quỷ bảo: “Vật này gọi là ” Miêu nhi diện”, có nguồn gốc từ vùng cực Tây của nước Ba Tư, chuyên dùng để che dâu hơi thở của con người. Chỉ cần đeo mặt nạ này lên thì chồn cáo, chó hoang trong núi thẳm dẫu có trông thấy người nhưng cũng chỉ nghĩ là một con mèo hoang qua đường”. Nói rồi, lão bảo Trương tiểu Biện đeo cái mặt mèo lên mặt, đồng thời dạy cho kế hay, bảo hắn một mình mang con mèo đen đi vào vùng Hoang tang Lĩnh bắt giết Thần Ngao,sau đó còn mách cho hắn rất nhiều việc làm từ nay về sau, dặn dò phải nhớ kĩ trong lòng.
Trương Tiểu Biện thấy kế sách của Lâm Trung Lão Quỷ thực là hiểm hóc, người thường không thể nghĩ ra nổi, không rõ mình có thể thi hành được không, định hỏi lạ thì nghe thấy bên ngoài có tiếng trống nư sấm dậy. hắn vội vã chạy ra ngoài miếu nghe ngóng rồi sợ hãi thốt lên: “Ai dà! Thành Linh Châu đánh trống gọi quân, chắc là chuẩn bị đánh trận lớn rồi.” Lúc hắn quay vào trong thì đã không thấy bóng dáng Lâm Trung Lão Quỷ đâu nữa, chỉ thấy bầy mèo hoang trong sảnh bị tiếng trống trận làm kinh động, đang chạy trốn tứ phía.
Trương Tiểu Biện ngẩn ngơ một lúc, cúi đầu nhìn bộ đồ dạ hành đen tuyền từ đầu tới chân đang mặc, mới hiểu rằng chuyện vừa nãy không phải là một giấc mơ. Hắn nghĩ bụng, quân địch đang áp sát chân thành., Linh Châu tuy binh nhiều lương đủ nhưng cũng chỉ là một tòa thành cô lẻ không có viện binh, không biết có thể giữ được bao lâu nữa. Đằng nào khi thành bị phá tất cả cùng chết hết, chi bằng cứ làm theo lời của Lâm Trung Lão Quỷ, liều một phen đoạt lấy vinh hoa phú quý cho riêng mình.

Dân gian có câu rằng: “Từ khi mắc lỡm gian thương; Những lời đường mật tởn luôn tới già”. Nhưng tầm nhìn của Trương Tiểu Biện hết sức thiển cận, cũng chưa từng “đi một ngày đàng học một sàng khôn”, hắn cảm thấy: “Đằng nào thì Tam gia ta đây ngoài cái mạng nhỏ chẳng có thứ gì khác, nếu nhân thời vận này mà làm nên, thì đúng là nhặt được món lợi trời cho rồi”. ĐÚng là lòng tham không đáy, còn chưa được voi đã đòi tiên rồi. Từ đây hắn đã quyết chủ ý, liền không quan tâm đến nông sâu gì nữa, nhặt nhạnh đồ đạc đâu đấy, rồi đem theo con Nguyệt ảnh ô đồng kim tuyến miêu vội vã chạy về nha phủ trình diện.
Đi được nửa đường, liền gặp Tôn Đại Ma Tử đang chạy tới tìm. Trương Tiểu Biện vừa nếm một vụ nhớ đời trong vụ bạc công ở Hòe viên nên giờ không dám khoe khoang nữa, chỉ nói vắn tắt tình hình một lượt. Hai người trở về cầu kiến Mã đại nhân, xin được nhận lệnh đi tiêu trừ bầy chó hoang trong Hoa tang lĩnh trừ hại cho dân địa phương.
Chớ nghĩ Mã Thiên Tích chỉ là một quan văn mà chớ hiểu lầm. Hơn một năm nay, lão đã có công chiêu mộ lính giữ thành, được hoàng thượng hạ chỉ khen thưởng, nghe đâu không bao lâu sau sẽ thăng quan cho lão. Vì vậy, lão mới nắm hết mọi việc quân vụ, bố phòng ở địa phương, trực tiếp nhận lệnh của quan Tổng đốc Lưỡng Giang. Lúc này, quân Việt Khấu đang áp sát chân thành, có lẽ snags sớm mai sẽ tổ chức tấn công, Mã Thiên Tích bận rộn luôn chân luôn tay, liên tục điều khiển lính dõng, phân phát hỏa khí, mọi việc khác đều tạm gác sang một bên.
Chỉ riêng Đề đốc Đồ Hải là khong dứt được chuyện hồi sang bị con Thần Ngao làm cho một phen sợ vỡ mật. Bọn Việt khấu đánh tới thành tuy đông nhưng đã có tường cao hào sâu ngăn trở, bọn quân ô hợp như chúng chắc cũng chẳng làm được trò trống gì. Nhưng con chó dữ ở Hoang Táng lĩnh thì đúng là như ma như quỷ, biết đâu nó sẽ ngầm lẻn vào trong thành, nhân lcus người ta không phòng bị mà xông tới cắn. Lão lại nghĩ đến tình cnahr của Lưu NGũ gia bị phanh ngực moi bụng mà bất giác run lên, đứng ngồi không yên, cứ thôi thúc Mã đại nhân phải mau chóng tìm ra đối sách.
Đúng lúc ấy lại có Trương Tiểu Biện đến xin nhận lệnh, Mã Thiên Tích mừng quá, cất tiếng gợi khen: “Quả thực bản quan nhìn người không lầm, Trương bổ khoái thực là một bạc trang sĩ vậy. KHông rõ định làm thế nào, cần mang theo bao nhiêu người ngựa?” Trương Tiểu Biện đáp:”Tiểu nhân đội ơn ân tướng đã yên mên cất nhắc mà chưa có dịp nào báo đáp, nếu có cơ hội chia sẻ nỗi lo cho Mã đại nhân thì dẫu phải nhảy vào núi đao biển lửa, tiểu nhân quyết không từ nan. Việc này không phải đụng đến một binh một tốt nào, chỉ cần Tôn Đại Ma Tử ở lại trên mặt thánh tiếp ứng là được. Tiểu nhân đã tự có cách đối phó với bọn chó dữ ở Hoang Táng lĩnh”
Mã đại nhân thấy hắn mồm mép tép nhảy, nhưng trông thần sắc tựa như trong lòng đã có kế sách. Lão đã cùng thì không nghi, đã nghi thì không dùng, liền gật đầu nói: “Nếu không phải kẻ có tài trí muôn phần thì sao có thể làm được như thế! Xem ra nhà ngươi đúng là một viên ngọc trong đá. Nếu chỉ dựa vào quần áo, diện mạo mà xét đoán người thì ắ sẽ bỏ lỡ hiền sĩ trong thiên hạ! Trương bổ khoái quả nhiên không phải người tầm thường, bản quan sẽ y theo lời của ngươi, điều phái một toán công sai đến mặt thành đẻ tiếp ứng. Sau khi thành công, ắt sẽ trọng thưởng!”nói xong, lão sai người mang ra một thanh đoản đao, chính là ngọn Thốn thanh của đao phủ thời xưa truyền lại, sau khi Lưu Ngũ gia chết thì nhập vào công khố, giờ trao lại cho Trương Tiểu Biện mang theo phòng thân. Kế đó, lão ban cho hắn một cái lệnh bài giắt lưng để ra vào thành, cho phép tùy nghi hành sự.

Song những viên quan khác, đến ngay cả lão Đề đốc người Bát Kì Đồ Hải nọ, đều nghĩ thầm, thằng ranh Trương Tiểu Biện có tài cán thực sự nỗi gì, chẳng qua chỉ là một phường lưu manh vô lại m àthôi. CHuyện này đâu phải chuyện đùa, khác nào đi vuốt râu hùm, nhổ răng cọp, dễ gì làm nổi, dù có đánh liều àm đi thì cũng là không dưng đâm đầu vào chỗ chết mà thôi.
Lúc ấy trời đã chập tối, Trương Tiểu Biện liền cáo từ đi ra, gọi Tôn Đại Ma Tử và một toán công sai đi tới phía Nam thành. Ngoài thành đang có đại địch áp sát nên cổng thành hông dám mở, đành phải ròng giỏ tre lớn đưa người xuống dưới.
Trương Tiểu Biện thấy trên thành đầy chặt, toàn lính dõng đang liên tục vận chuyển những súc gỗ đá, tên nỏ và đặt rất nhiều hỏa khí diệm pháo, từng khẩu Phách SƠn pháo và súng ống bày la liệt không đếm xuể, thật đúng là: “Khói lang sông vũ trụ; Sát khí ngập đất trời“. hắn chưa từng chứng kiến quang cảnh trận đánh nào như thế, trong lòng không khỏi run sợ, dưới chân mềm nhũn ra, trong lòng cũng hơi hối hận vì vừa nãy chót khoa trương trước mặt lão quan họ Mã, đến giờ thì không còn đường nào lui nữa, đành đem hết tinh thần sức lực toàn thân chuẩn bị đợi đến khi trời tối hẳn sẽ ra ngoài thành hành sự. Lần này thì mới phải: “Liều thân vào hang cọp; Mạo hiểm xuống đầm rồng”
Trương Tiểu Biện nghĩ bụng, non gan thì không thể làm tướng quân được, không liều thân thì sao được phú quý, ai bảo mình sinh ra đã không tiền tài, không thân thế, lại không có tài cán gì để mưu sinh, không cam sống kiếp cực nhọc qua ngày, không xả thân liều mạng kiếm chút lợi lộc thì bao giờ mới vẻ vang cho được? Nghĩ tới đây, muons ra sao thì ra, hắn nai nịt ngọn ngàng bộ dạ hành lên người, dùng dây xanh quấn chặt bắp chân lại, xỏ đôi giày gai, sau đó mang theo lương khô, nước uống và một bao vôi bột nhỏ, giắt ngọn đoản đao Thốn thanh vào hông, rồi ngồi trên mặt thành ăn uống một bữa no say cùng con mèo đen.
Tôn Đại Ma Tử rất hâm mộ hành động của Trương Tiểu Biện, có ý muốn đi cùng, nếu có gì bất trắc thì hai người có thể tiếp ứng cho nhau. Trương Tiểu Biện liền ngăn lại nói: “Xem thế trận này, tờ mờ sang mai Việt Khấu sẽ đánh tới thành. Nếu không có huynh ở lại trên thành thì khi ta về ai sẽ tiếp ứng kéo lên?” Tôn Đại Ma Tử gật đầu cho là đúng, đồng thời dặn Trương Tiểu Biện nhất định phải quay về trước khi trời sáng, nếu không sẽ bị vây khốn trong quân Việt Khấu, rồi chết trong đám loạn quân cũng không chừng
Lúc đó, mây đen che khuất ánh trăng, đúng là cơ hội tốt để lẻn ra, Trương Tiểu biện ngồi vào trong giỏ tre cho ngưởi thả xuống, hắn nghiêng ngó bốn phía rồi nhét con mèo đen vào trong lòng, nhân có mấy ánh sao sáng lờ mờ mà chạy thẳng vào Hoang Táng lĩnh ở phía Nam thành.
Tuy ngọn ní hoang rất gần thành những hang hốc rất sâu, là một nơi hết sức hoang vu, ngoài những dân phu chuyên vứt xác ra, rất ít người dám lại gần, đến quân Thái Bình cũng không dám đi đường núi này, mấy làn trước đều phải chia làm hai ngả tránh vòng qua.
Trương Tiểu Biện đi được một lúc đã đến trước hang núi. Xưa này hắn chịu cảnh màn trời chiếu đất đã quen, cũng không bào giờ phải để tâm lo lắng chuyện đi một mình giữa vùng núi hoang lúc khuya tối, Chỉ thấy bốn phía cỏ dại mọc cao quá đầu, mộ phần lớp lớp trong đám cây cối um tùm, tỉnh thoảng có vài con chó hoang lang thang giữa khu nghĩa địa. hắn làm theo lời Lâm Trung Lão Quỷ, đội mặt nạ lên mặt, quả nhiên không gặp phải bất cứ nguy hiểm gì. Hắn phân biệt rõ phương hướng rồi di thẳng xuyên qua bãi tha ma ộng lớn hoang vu, tiến thẳng vào sâu trong sơn cốc, thấy dưới chân toàn là xương người trắng hếu, bốn phía từng đám lửa lân tinh chập chờn mờ tỏ, ánh trăng xuyên qua kẽ mây đen rọi xuống, chiếu vòa những phiến đá lớn hình thù quái dị ở hai bên, phóng mắt nhìn ra xung quanh chỉ thấy một vùng mồ hoang núi dại. Thất là : “Tám hướng không ai tới; Bốn mùa ít người qua” . Đi vào đó chẳng khcs nào đi vào Quỷ Môn quan ở Âm tào Địa phủ.

Cho dù Trương Tiểu Biện to gan nhưng cũng không khỏi cảm thấy rợn người, chỉ còn cách vừa đi vùa nói với con mèo đen mấy câu để xốc tinh thần: “Thường nghe nói mèo nhà Linh Châu không bằng mèo hoang, hết sức tham lam lười nhác, thích ăn trắng mặc trơn, nhưng lần này chúng ta vào núi bắt giết con Thát tử khuyển, đều phải dựa vòa sức chú mày cả đấy.Chỉ cần làm sao đại sự, ngày nào cũng mua cá tươi về để chú mày ăn cho bõ thèm, Chớ thấy Tam gia ta nghèo khổ không một xu dính túi mà lầm, nhớ hồi xưa Hòa Âm hầu Hàn Tín lúc chưa gặp thời còn phỉa chịu nhục luồn trôn, Lữ Mông nhà Bắc Tống khi chưa làm nên tể Tướng, cũng chẳng phải đã giống như TRương tam gia ta, ngày ngày chú ngụ trong miếu nát qua đêm đó sao? Vì vậy , con người ta ở đời, vận số giàu nghèo, suống khổ còn phải chờ xem sau này thế nào, chứ chuyện hiện tại thì không tính, chú mày đừng lấy mắt mèo ra mà xem thường người khác… ”
Trương Tiểu Biện rầm rì một lúc lâu, chủ yếu là nói để mình nghe, cứ thế đi thẳng vào hang sâu, thoáng chốc đã đến bên dưới một vách dá lớn, dưới ánh trăng thấy chân núi có khắc hai chữ đại sự, nét bút cong cọng quẹo quẹo như đnà nòng nọc đang bơi. Tuy rằng hắn cũng biết được dăm ba chữ, nhưng không tài nào đọc được những chữ Triện cổ trên kia, nhưng nghe Lâm Trung Lão Quỷ bảo rằng, trong Vạn thi phần Hoang Táng lính ngày xưa có một nơi đúc kiếm, dưới hang núi có khắc hai chữ “Kiếm Lô”, liệu chừng chính là nơi đây rồi.
Vốn thời xưa có rất nhiều danh kiếm, những đao kiếm tầm thường thời này không thể so sánh được. Phàm đã là loại kiếm sác bén thì xuống nước có thể chem. Giao long, lên cạn có thể chặt tê tượng. Nổi tiếng nhất là Thái A, Long Tuyền, Bạch Hồng, Tử ĐIện, Can Tương, Mạc Da, Ngư Trường, Cự Khuyết… gì gì đó, mỗi thanh đều có sự tích xuất xứ rõ ràng. Núi này thời xưa đa sản sinh ra nhiều thép tốt, Từ thời Xuân Thu- Chiến Quốc đã là nơi đúc kiếm rèn binh khí đệ nhấ, tới khi bảo kiếm đúc thành thì tinh khí ngọn núi cũng cạn kiệt, trở thành một vùng hoang phế âm u. Cạnh hai chữ” Kiếm Lô” trên vách núi có một hang động, chính là di tích của lò đá đúc kiếm năm xưa. Trương Tiểu Biện tìm đến cửa động, thổi to ngọn bùi nhùi mang theo, chiếu sáng đường đi phía trước rồi mò mẫm vách đá tiến thêm mười mấy bước nữa, thấy kẹp giữa ai vách đá trong hang núi là ngôi điện đá lớn, phía dưới đã bị lún đến một nửa, phần còn lại trông như khảm chặt vào chân vách đá, để lộ một lớp mái đá trong hang núi.
Ngôi điện đá cao lớn rộng rãi, được phân thành ba gian Thiên Địa Nhân. Bên trong cửa đá là một lò gạch rất to, cỡ phải bằng một nửa gian nhà dân bình thường, đã lún xuống một nửa tường. Trương Tiểu Biện nghĩ bụng: “Đây chính là lò đúc kiếm rồi cửa lò là chữ nhân, tuy hẹp nhưng bên trong khá rộng rãi, cứ vào trong nấp tạm đã, đợi con Thát tử khuyển rồi sẽ tính sau”. Nào ngờ vừa mới lách nửa người vào trong, hắn đã trông thấy có người chết treo trong hầm lò. Người chết gương mặt trắng bệch, mắt trợn tròn lên, lưỡi thè ra ngoài, hai chân lơ lửng trên không, chao đi chao lại phía trước. Trương tiểu Biện vốn không đề phòng, thoạt trông thấy có vật “đánh đu” trước mắt, liền giật nảy mình, sợ suýt chết.
Đúng thật là: “Phú quý vinh hoa ai chẳng thích; Phép màu sinh tử mấy người hay?”Không rõ trương Tiểu Biện gặp được kỳ ngộ gì trong lò đúc kiếm và có lập mưu bắt giết được con Thần ngao hay không, xem hồi sau sẽ rõ.

Hồi thứ 7: Bạch gia
Lại nói về lò đúc kiếm thời Xuân Thu- Chiến Quốc, kỳ thực ra nên gọi là Kiếm thất, bên trong điện được chia thành ba gian Thiên Địa Nhân, đồng thời trong ngoài chia thành hai tầng, bên ngoài ốp gạch ngói chịu lửa, bên trong thì như một gian nhà dân, cũng có cột đá kèo đồng, có đặt một cái lò để lấy lửa luyện thép. Lò chữ Thiên phun lửa, là chữ Địa luyện thép, lò chữu Nhân là nơi người sống nhảy vào, lấy tính mạng để tế kiếm. Trong gian lò có một vị kiếm sư treo cổ tự tử, lẽ nào linh hồn đã nhập vào kiếm khí chỉ còn lại một cái xác treo lơ lửng hàng nghìn năm nay.
Trương Tiểu Biện không hiểu chuyện gì, bỗng dưng bắt gặp một cái xác chết “đánh đu” trong lù đúc kiếm, quá sức sợ hãi, lập tức co rúm người lại định bỏ chạy, nhưng dưới ánh sáng lấp lóa của đám bùi nhùi trong tay nhác thấy bên dưới thân thể chết treo kì quái kia, có một người toàn thân nhuốm máu đang nằm ngục. Trương Tiểu Biện tinh mắt, vừa liếc qua đã nhận ra người quen, chẳng phải ai khác mà chính là lão Thiết trung, lão bộc của Thiết Trưởng quầy ở Tùng Hạc đường
Trương Tiểu Biện đảo cặp mắt hai vòng, bụng bảo dạ: “Từ đêm hôm mượn chỗ tá túc ở Hòe viên thì Thiết chưởng quầy và Thiết trung đều đi đâu mất tích, sống không thấy người, chết không còn xác, chẳng ngờ lão Thiết trung này lại ở chỗ này. Việc này có nhiều uẩn khúc, người này lại thật thà lương thiện, Tam gia ta sao có thể khoanh tay đứng nhìn được?” Hắn hơi do dự, rồi rùn người quay vào trong lò, đến bên canhjc ái xác chết treo chắp tay nói: “Âm dương đôi ngả, không làm phiền nhau, chúng ta nước sông không phạm nước giếng nhé”
Sau đó Trương Tiểu Biện ngỡ thân thể lão hán Thiết trung xuống, thò tay sờ thử vào tim, thấy vẫn còn ấm, nhưng máu thịt trên cơ thể bầy nhầy, bị thương rất nặng, lại còn sốt cao, môi kiệng nứt nẻ, đúng là: “Thân như trăng nhạt khi mờ sáng; Mệnh tựa đèn côi lúc cạn dầu“, tính mạng chỉ còn trong khoảng khắc.
Trương Tiểu Biện cậy răng Thiết trung, đổ mấy ngụm nước trong hồ lô mang theo vào mồm lão. Được uống nước mát, liền kêu aid a một tiếng, từ từ lấy lại hơi thở, thần trí hơi tỉnh táo lên một chút. Đúng là: “Hang lạnh may thay tia nắng rọi; Tro tàn lại có vẻ bùng lên”. Nhưng vừa mơ màng mở mắt, lại trông thấy Trương tiểu Biện đeo mặt nạ mặt mèo, những tưởng là miêu ly trong núi thành tinh, sợ quá suýt nữa chết ngay tại chỗ.
Trương Tiểu Biện vội đẩy mặt nạ lên trên đỉnh đầu, hỏi vì sao lão gặp nạ tới mức này. Lão Thiết trung thấy Trương Tiểu Biện tuy rằng vô cùng ngạc nhiên nhưng không sợ hãi nữa, liền nhân khi hồi quang phản chiếu, đầu óc còn minh mẫn, xốc lại tinh thần kể lại cho hắn một lượt câu chuyện đưa xác vào Hoang Táng lĩnh.
Số là từ hôm Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử vào thành Linh Châu, đem cái xác phụ nữ từ Ứng Trủng sơn đến hiệu thuốc Tùng Hạc đường đổi lấy con mèo đen nuôi sau nhà của Thiết trưởng quầy. Lão Thiết trưởng quầy là kẻ biết người biết của, xưa nay cưa từng làm việc lỗ vốn bao giờ. Lão nhận ra cỗ cương thi này chính là mỹ nhân vu của triều trước, do ngưởi đó ngậm oan mà chết nên hình hài không nát, là thứ hàng hóa quý báu khó tìm ngoài chợ đen,.

Mấy năm gần đây, vùng Giang Nam xuất hiện rất nhiều yêu nhân tu luyện tà thuật Tạo Súc, nhân thieen tai địch họa để làm những việc táng tận thiên lương. Bọn người này đi đến đâu cũng tìm cách cắt hạ bộ của người chết, đem phối nam dương, nữ âm lại thành một bộ để luyện thuốc. Tà thuật này càng luyện đến tầng cao thì càng cần nhiều cương thi và thai sống. Phàm là tử thi chết oan không rửa nát, trả con bị bắt cóc, hoặc thai nhi trong bụng sản phụ, thậm chí cả bộ nhau thai, đều là những món mà bọn chúng thèm muốn.
Xưa nay chiến tranh luôn đi kèm với sự tàn phá, sau mỗi trận đánh là đất bỏ hoang nghìn dặm, thóc lúa sạch không, người chết đói và chết trong chiến loạn nhiều không đếm xuể, đâu đâu cũng có xác người mới chết. Những xác chết mấy trăm năm và thai đồng tử lại rất khó kiếm, vậy là liền xuất hiện bọn trộm mộ bắt cóc, buôn qua bán lại đến tay đám nghiệt đồ Tạo Súc, việc kinh doanh thu lợi rất lớn. Giữa cái thời buổi nhớp nhúa, chỉ cười chê kẻ nghèo chứ không cười chê con điếm ấy, kiếm tiền bằng những cách mất nhân tính như thế cũng có đáng kể gì.
Thiết Công Kê tuy có gia sản lớn lao nhưng tính tình biển lận khắc bạc, xưa nay chưa bao giờ chán tiền chán bạc. Hắn lại làm nghề buôn bán dược liệu, thuộc các đường đi lối lại, bến cảng cửa ngõ, quen được lũ đạo tặc chuyên trộm lăng, quật mộ, vì vậy ngấm ngầm buôn bán cả cương thi. Mỗi khi có hàng, lão lại tự mình đem ra ngoài thành bán,
Những vụ buôn bán ấy đều tiến hành trong bóng tối, đến cả những người cực kì thân tín trong nhà Thiết Công Kê cũng không hay biết. Có điều hắn thế đơn lực mỏng, một mình thì không làm nổi nên mỗi lần đều phải dẫn lão bộc già Thiết Trung theo.
Thiết Trung lúc đầu không hề biết đầu đuôi ngọn ngành, nhưng đi đi về về một thời gian dài, dần dần cũng hiểu được một số sự tình. Lão là người trung hậu chất phác, những chuyện tày đình như thế khi nào dám làm, cứ khuyên chủ nhân dừng lại để tránh rước họa vào thân, hiệu thuốc làm ăn lớn thế này rồi, sao lại vất vả khổ sở đi làm cái việc buôn bán táng tận lương tâm như thế.
Nhưng lão Thiết Công kê ấy tầm mát hạn hẹp vô cùng, trong đầu chỉ biết có mỗi một chữ “lợi”. tuy đã kiếm được cả gia sản to lớn nhưng lão vẫn coi từng đồng từng cắc quý hơn tính mạng, ngoài chuyện bất chấp thủ đoạn kiếm tiền ra, đối với người nhà lão cũng hết sức keo kiệt, bủn xỉn. Mỗi sáng thức dậy, bảnh mắt ra trên giường là lão lại cảm thấy đau đớn đến rơi nước mắt, trong lòng hơi giân khôn nguôi, vì lẽ gì nhỉ? Lão giận vì mặt trăng mặt trời, tinh tú trên trời cứ thế luân chuyển, hôm qua đã ăn cơm, hôm nay tỉnh dậy lại phải ăn cơm, tiền gì cũng tiết kiệm được, duy chỉ có ngày hai bữa cơm là không thể không ăn.
Vào thời đó, đám địa chủ và gian thương kéo bẩn đều có tuyetj chiêu dè sẻn riêng của mình. Nhưng kẻ khác thì thôi không bàn, chỉ đơn cử Thiết Công Kê giàu nứt đố đổ vách nhưng mỗi ngày hai bữa cơm sáng và tối tyrong nhà, đến dưa muối cũng không dám ăn. Mỗi năm nhà lão chỉ mua một con cá, ướp muối suốt nửa tháng cho đến khi con ác mặn chat, ngay cả lũ mèo già cũng không dám ăn vụng, lão mới mang con cá mang ra treo phía trên bàn ăn.
Tới bữa cơm, cả nàh mỗi người chỉ có một bát cơm hẩm, ngẩng đầu nhìn con cá muối một cái, chỉ nhìn thôi cũng đã tháy mặn tới tận ruột gan rồi, sau đó và vội và vàng hai miếng cơm vào mồm, vậy là tiết kiệm được tiền thức ăn cả năm. Cho tới tận tối ba mươi Tết, lão mới cho hạ con cá muối tròn một năm tuổi đó xuống, dùng nước rửa cho bớt muối đi rồi chia cho cả nhà lón bé cùng ăn. Đến sáng sớm mùng một, ai nấy đều hò hè như biến hết thành “hổ ướp muối” không bằng.(Hổ ướp muối: tức con dơi. Theo truyền thuyết dân gian, con chuột ăn nhiều muối sẽ biến thành con dơi. Tên gọi khác của con dơi là Dạ Miêu Hổ, vì thế mới gọi là hổ ướp muối)

Chuyện này trong xã hội cũ thì không hiếm, chỉ vì những kẻ bo bo ôm của ấy biết rõ tiền bạc thực không dễ kiếm, mỗi đồng bạc đều phải vất vả nghĩ trăm phương nghìn kế mới rút được ra, bởi vậy trừ những nhà giàu xổi ra, phần lớn các phú hộ đều hết sứ keo kiệt, xem hai chữ tiền tài to như trời bể.Chúng thường cho rằng tiền tài là thứ có linh tính nhất trên đời, chỉ có ai tiếc tiền yêu tiền thì nó mới cam lòng đi theo. Nếu ai đó cầm tiền mà không quan tâm đến tiền, tiền vào tay này rồi ra tay kia tức là xúc phạm đến Tài thần lão gia, làm sao ngài đem tiền cho nữa? Bởi thế mới có câu: “Buôn tàu bán bè không bằng ăn dè hà tiện“, hễ nàh nào ăn ở keo bẩn nhất định nhà đó là một phú hộ.
Loại người như Thiết Công Kê chính là hạng bủn xỉn keo kiệt, một đồng một cắc cũng không buông, cả ngày đều tính toán làm sao cho tiền có vào mà không có ra, thật ứng với câu nói xưa: “có số kiếm được tiền mà không có phúc tiêu“, chỉ cần mưu lợi được thì dẫu có cắt thịt ông bà tổ tiên ra bán thì hắn cũng can tâm tình nguyện, sao lại để tâm đến lời của lão bộc Thiết Trung làm gì.
Lão Thiết Trung này đời đời đều làm gia bộ, xưa nay chủ nhân dặn đi làm chuyện gì cũng tuyệt đối không dám nói nửa chữ “không”. Lão khuyên can Thiết Công Kê hai lần không được, buồn đến nỗi trằn trọc cả đêm không ngủ, đang không biết nên làm thế nào, Thiết chưởng quầy lại gọi lão dậy đi làm, đành phải gắng gượng đi theo. Hai người vào mật thất lóc thịt Mỹ nhân vu, ném xương tàn vào lò thiêu, chỉ đem da thịt và cái đầu gói vào một túi da rồi nhân lúc không ai hay biết trèo tường rời khỏi tiệm thuốc. Thiết Công Kê đem mấy thứ thuốc rởm ra hối lộ bọn lính dõng tuần thành mở cửa thành chuồn ra ngoài, trăng mờ gió lớn, cả hai đi thẳng một mạch đến Hoang Táng lĩnh.
Thiết Công Kê không thông đường thuộc lối ở đây, nhưng lão cũng biết trong sơn cốc toàn chó hoang, không dám ngang nhiên đi sâu, liền cầm một ngọn đèn lồng trắng trong tay, đứng chờ trước cửa núi một lúc, lâu mới thấy một con chó già trụi đuôi đi ra. Con chó này như một tên ma cô dẫn đường, nghiêng ngó nhìn hai người rồi quay mình, vẫy đuôi đi vào trong.
Thiết Công Kê vội sai Thiết Trung vác cái túi da đựng đầy thịt xác chết, đi theo con chó trụi đuôi vào trong sơn cốc. Càng đi càng sâu, rốt cuộc cũng tới một hang động, chỉ thấy có một con chó xù toàn thân lông trắng nằm phục trên mặt đất giữ một hòm tiền, bên trong toàn là vàng ròng bạc nén, không chỉ có bạc đúc của bản triều mà còn có rất nhiều “Kim Dương tiền” của nước ngoài nữa.
Thiết chưởng quầy lần đầu tới giao dịch ở Hoang táng lĩnh này, chỉ nghe người dẫn mối nói là “bạch gia” muốn xme hàng, lão những tưởng sẽ làm ăn với người nào đó giống như những lần buôn bán trước, nào ngờ trong núi chẳng thấy bóng người, chẳng lẽ con chó này chính là Bạch gia? Thiết Công Kê bụng bảo dạ, chẳng cần biết mày là người hay chó, chỉ cần có tiền tức là đại gia rồi, nghĩ đoạn liền mang cái túi da đến trước mặt con chí xù lông trắng mở ra, lấy cái đầu của Mỹ nhân vu đặt xuống đất.
Con chó xù lông trắng lại gần đánh hới một lát rồi rồi dùng móng chân khều ra hai đĩnh vàng. Thiết Công Kê cảm tạ rối rít: “tạ ơn bạch gia đã ban thưởng”, nói rồi bước lên hai bước nhặt vàng bỏ vào trong bọc.

Thiết Trung bình sinh chưa bao giờ thấy cảnh tượng quái dị như vậy, đúng là lạ lung hết sức, trên đời này làm gì có chuyện như thế được! lão bất giác lo gặp phải yêu quái, liền giật ống tay lão Thiết chưởng quầy, khuyên chủ nhân đã lấy được tiền thì mau chóng quay về. Nào ngờ, Thiết Công Kê thấy tiền thì nóng máu, huống hồ thấy trong núi không có người, chỉ có một con chó xù canh cả hòm bạc lớn, nhất là đống Kim Dương tiền, màu vàng rực rõ làm người ta lóa cả mắt. Lòng tham quặn từng khúc ruột, không sao kìm nén lại được, liền manh tâm chiếm hòm làm của riêng.
Thiết Công Kê vừa nhặt một hòn đá lên tay, định vòng ra phía sau đập chết con chó trắn, nào ngờ trong núi vọt ra một chó lớn, to như con lừa, trên người đầy đốm máu, cuốn theo một trận gió ập đến. nó vồ ngã Thiết Công Kê ra đất, rồi đúng như: “Hổ dữ vồ dê; Diều hâu chộp én non“, chẳng để Thiết Công Kê kịp giãy giụa, trong chớp mắt đã moi quả tim bê bết máu trong lồng ngực lão ra.
Đáng thương Thiết Công Kê cả đời so trước tính sau, cả đời ăn không dám ăn, mặc không dám mặc, vất vả lao tâm, tốn sức, rốt cuộc lại kết thúc tính mạng như thế, thật đúng là: “Thế là tính mạng đi đời, đắng cay để lại ngọt bùi cho ai?”

Thiết trung đứng bên cạnh đờ người ra, lão đã nhiều lần tận mắt thấy con chó lớn mà dân gian vẫn gọi là Thần Ngao này trên pháp trường trong thành. Lão hoảng sợ vô cùng, chỉ mong bỏ chạy thoát thân, chẳng ngờ bước hụt một cái, ngã vào lò đúc kiếm này.

Thiết trung ngã gãy chân, trên người bị đá cứa chảy máu be bét, may mà chui vào được trong lò kiếm, chặn cửa lò chật hẹp lại mới giữ được tính mạng. Lúc cầm canh gõ mõ vào buổi đem, lão hay mang theo chút lương khô và nước, giờ đó miễn cưỡng kéo dài được mạng sống đến giờ, chỉ có điều đã không thể nhấc chân đi được bước nào, tính mạng coi như đã bỏ đi. Lão cũng tự biết rất rõ mình chẳng thể sống được bao lâu nữa, trước lúc xuôi tay nhắm mắt, chẳng có mong muốn gì khác, chỉ khẩn cầu Trương Tiểu Biện giúp cho một việc là đem tin tức về báo với người nhà, để họ biết Thiết chưởng quầy đã chết đến thi thẻ cũng bị bầy chó ăn hết rồi, mau mời hòa thượng pháp sư đến lập một cái đọa trngaf siêu độ cho vong hồn, rồi đắp mọt cái mộ gió chôn mũ áo để chủ nhân không phỉa làm cô hồn dã quỷ.

Ánh mắt Thiết Trung dần dần tán loạn, tới khi lão phều phào dặn dò xong thì hơi thở đã mảnh như tơ, cuối cùng cũng không lấy lại được hơi thở nữa ,à “chết” trước mặt Trương tiểu Biện.

Trương Tiểu Biện thầm kinh hãi, chẳng ngờ Thiết chưởng quầy ở Tùng Hạc đường lại cấu kết với bọn yêu tà Tạc Súc, hơn nữa, Lâm Trung Lão Quỷ sao không bảo trước cho hắn về con chó xù lông trắng canh hòm tiền trong hoang táng lĩnh, việc giết chết con Thần Ngao này rốt cuộc có làm được hay không đây? Trong đầu hắn nghĩ mien man một lúc rồi vái thi thể Thiết Trung hai vái: “thiết lão, sống khôn chết thiêng, xin hãy hù hộ cho Trương Tam gia ta bình an trở về, bằng không lão và Thiết chưởng quầy sẽ phải ngậm hờn oan uổng, mãi mãi chết không rõ ràng”

Đúng lúc ấy, bỗng nghe đàn chó hoang lớn trong núi tru gào điên cuồng, tiếng kêu dần vang lại gần, thoắt cái đã đến. Trương Tiểu Biện biết có sự lạ, vội thổi tắt bùi nhùi, men theo tường lò trèo lên chỗ cao nhất trong nhà đá, mượn ánh tắng nhòm trộm động tĩnh trong núi. Chỉ thấy bầy chó hoang trong Hoang Táng lĩnh không rõ bới được trong khu mộ nào ở đâu ra ổ cáo, tổng cộng cso ba con to, một con nhỏ, trong đó, một con cáo già đang ngậm một con cáo con trong miệng, ra sức bỏ chạy thục mạng. Nghe nói vạn vật trên thế gian, trừ con người ra, chỉ có loài cáo là linh nhất, thế mói có chuyện “hồ ly mê hoặc người”, dẫu cho chó săn có khôn ngoan, nhanh nhẹn cũng khó lòng bắt được chúng. Nào ngờ đâu, có lúc chúng bị bọn chó hoang truy đuổi tới mức đường cùng, phải chạy trốn vòa chỗ tuyệt lộ trong Hoang táng lĩnh này.

Thực là: “Kể ra câu chuyện kinh trời đất; Nói rõ hành tung khiếp cổ kim” rốt cuộc chuyện sẽ ra sao xem hạ hồi phân giải.

Hồi thứ 8: tinh tinh trản

Lại nói đến Trương tiểu Biện và con mèo đen nọ trốn bên trên gian điện đá, thò đầu ra nhìn trộm động tĩnh trong Hoang táng lĩnh. Lúc ấy, tinh tú trên trời đều đã ló ra, dưới ánh sáng lạnh lẽo của trăng sao, chỉ thấy một đàn chó hoang lớn đang tru gào đuổi một ổ cáo vào lối cụt.

Bọn chó hoang này kết bầy trong núi chuyên môn đào mộ, húc quan tài trong bãi tha ma, lôi thi thể những người chết còn chưa rữa nát ra ăn cho đỡ đói, lúc bình thường cũng hay rượt bắt, ăn thịt bọn chồn, thỏ trong vùng gò mộ hoang vu này. Mỗi con cáo có một tuyến hôi, nếu gặp phải nguy hiểm, chúng có thể phóng ra mùi hôi giống như loài chồn hôi, được gọi là” Hồ yên”(khói hồ ly)

Hồi yên có màu xanh đậm, không thối như mùi rắm của bọn chồn hôi, nhưng lại có tác dụng làm mê loạn thần trí. Khứu giác của chó cực kỳ nhạy bén, một khi hít phải thứ khói này, nhẹ thì bị tê liệt các giác quan, trong lúc chạy đuổi sẽ húc vào đá vỡ đầu, chảy máu, gãy xương, đứt gân, nngawj thì ũng sủi bọt mép ngã quay ra, chân cẳng co quắp, sau cùng thần thái mê man biến thành chó dại.

Truyền thuyết hồ ly tinh giỏi mê hoặc người không hẳn chỉ là quan niệm mê tín không dưng nghĩ ra được. bầy chó hoang trong Hoang Táng lĩnh tựa hồ hiểu rõ về tập tính của lũ cáo, cứ đuổi dồn phía sau rất gấp nhưng vẫn giữ một khoảng cách nhất định với ổ cáo, không cho chúng cso cơ hội phóng hồ yên, cứ thế đuổi vào tận sâu trong hang núi cho bọn chúng sức cùng lực kiệt mới nhao vào bắt gọn.

Cầm đầu ở cáo này là một con hồ ly già dễ có đến trăm năm tuổi, toàn thân đỏ rực như lửa, trước trán có một đốm trắng, thoáng nhìn tựa như có ba con mắt. trong miệng nó ngậm một con cáo non, dẫ theo hai con khác chạy cuống cuồng, mấy lần giở kế sách hòng chạy thoát khỏi sự truy kích cảu bầy chó hoang, khốn nỗi đây là đại kiếp ông trời giáng xuống, từ đầu chí cuối chúng không giở ra được trò trống gì. Thấy sức lực đã kiệt quệ, trước mắt lại bị một vách đá chắn ngang đường, chúng biết số mệnh đã hết, đành dừng lại nhắm mắt chờ chết.

Bầy chó hoang thấy lũ cáo có chắp cánh cũng không thoát được nữa bèn bao vây chặt trong sơn cốc, rồi nhe nanh múa vuốt, sủa râm ran nhưng không vội ào lên cắn xé. Tình cảnh thực giống mèo bắt chuột, trước hết bắt ba lần, thả ba lần, vờn con vật bị bắn cho chán rồi mới ăn thịt.

Mấy con cáo lớn cáo nhỏ sợ hãi tới mức toàn thần run rẩy, rơi nước mắt, nhưng con cáo gì ba mắt nọ tựa như không can tâm giơ đầu ra chịu chem., liền nhả trong miệng ra một viên đỏ tròn trịa long lanh, trông giống như châu ngọc. trước đây, con cáo này từng gặp kì duyên, ăn được một gốc linh chi ngàn năm trong núi sâu, đồng thời ẩn nấp trong mộ đã nhiều năm, mỗi đêm đều ngẩng đầu nhìn trăng để hít luyện khí, cuối cùng cũng luyện được một viên ngọc Hồ ly có khả năng cải tử hoàn sinh. Giờ khi đã lâm vào cảnh đường cùng tuyệt lộ, liền định mang ngọc ra đổi mạng.

Có câu rằng, chó có Khuyển bảo, trâu cso Ngưu hoàng, viên sỏi trong cơ thể con cáo gài chính là ngọc Hồ ly. Bọn chó hoang tuy chỉ là bầy ô hợp nhưng cũng biết ngọc này là vật chân quý, nuốt vào bụng thì chí ít cũng tăng thêm được mấy chục năm tuổi thọ, con nào con nấy trợn mắt định lao vào cướp chợt nghe trong đêm khuya có một tiếng sủa lớn như tiếng bò rống. tiếng sủa mạnh mẽ cât lên, khí thế rung động cả trời xanh, khiến cho bầy chó hoang rung mình, rên ư ử cúp đuôi, nhất laotj lùi về phía sau.

Chỉ thấy một con chó lớn như con lừa vọt từ trên núi xuống ơn cốc như làn khói đen, đích thị là con Thần Ngao trong Hoang Táng lĩnh. Con Thát tử khuyển tung mình nhảy một cáitới trước mặt con cáo ba mắt, há miệng nuốt chặt viên ngọc rồi quay sang đè chặt hai con cáo lớn, cắn chết ngay tại chỗ, móc hai bộ tim gan ra ăn, rồi nhân khi cổ họng hai con cáo vẫn còn ấm, cúi xuống uống máu ừng ực.

Con cáo già ba mắt đứng cạnh trông rõ mồn một trên người nó cũng dính đầy máu tươi, sợ run như cầy sấy, rồi đột nhiên tỉnh ngộ, biết con Thần Ngao đã tha mạng cho mình và con cáo con. Nó đang ở chỗ chết lại được sống, liền vội vã ngoạm con áo con sống sót duy nhất chạy một mạch khong quay đầu lại, trong chớp awmts đã mất hút trong bóng tối mênh mông.

Tới khi con Thần Ngao uống đã máu, nó mới để hai cái xác cho bầy chó hoang hưởng thụ. Có điều mật ít ruồi nhiều, trong thaongs chốc, trong thoáng chốc bầy chó hoang đã ăn sạch hai con cáo chết, cả lông, da cũng không chừa. Những con ăn chưa no cũng không dám oán giận, đành tiếp tục đi vào bãi tha ma xung quanh để bới người chết, bắt cáo thỏ.

Hai mắt con Thần Ngao sáng như đuốc, vừa lè lưỡi liếm vết máu chồn dính quanh mồm, vừa sải chân dì về phía lò đúc kiếm. trong lò hiện còn rất nhiều thép tinh để đúc kiếm năm xưa, con Thần ngao thường dùng nơi này làm sao huyệt để nuôi dưỡng thêm sự hung bạo trong mình.

Trương Tiểu Biện chốn trên trần của gian điện đá, chứng kiến sự việc từ đầu chí cuối, sợ toát mồ hôi, biết con thát tử khuyển này cso thể săn bắt cả các loài mãnh thú như chó sói, hổ báo, trên thỏa nguyên Mạc bắc nên không dám xem thường. Chỉ thấy con Thần Ngao tiến vào lò kiếm, nhất nhất giống hệt như lời Lâm Trung Lão Quỷ mách bảo, hắn nghĩ thầm: “ĐÚng là vận số của Trương Tam gia ta đã đến rồi. Con chó dữ đêm này đã vào trong thì dẫu có ba đầu sáu tay, trên lưng mọc cánh đi nữa cũng chẳng có cửa mà ra” hắn lập tức phấn chấn tinh thần nằm phục trên cái xà nhà cùng con mèo đen, rón rén bước, giấu mình, nhè nhẹ bò về phía sau điện đá.

Con Thần Ngao đã ăn tim gan của hai con cáo, lại nuốt ngọc Hồ ly vốn là vật cực nóng, thấy trong bụng sôi lên sung sục, nó liền vào trong tòa điện đá đổ nát, định bụng tìm một chỗ kín gió để nghỉ ngơi một lúc. Con chó tinh tường vô cung, không cần ngẩng đầu cũng biết trên nóc xà điện có tiếng động bất thường, hít hít mấy hơi biết là hai con mèo hoang qua đường, chẳng bõ dính răng, nên không thèm để ý nữa, cứ thế đi về hậu điện, nằm phục trước gian lò chũ Thiên để ngủ.

Trương Tiểu Biện luồn một lúc trên xà nhà cũng mò tới nóc hậu điện. tường đá ở đây đã lúc tới một nửa, trên trời ánh trăng sáng lóa như nước, lọt qua mái dột của tòa điện, chiếu xuống mặt đất long lanh như dát bạc. Dưới ánh trăng chỉ thấy con Thần Ngao đang nằm trên một bệ đá cạnh lò nghỉ ngơi, trên đỉnh đầu nó có ba đĩa đèn bằng đồng treo lơ lửng từ trên xà ngang xuống. Mỗi đĩa đèn đều to cỡ cái chậu rửa mặt, phía trên đều có nắp đồng, chạm trổ họa tiết tinh tú, chất đồng trải qua mưa vùi gió dập lâu ngày giờ đã mốc xanh.

Ba đĩa đèn này không phải vật tầm thường, mà được gọi là Tinh Tinh trản, cổ vật bằng đồng từ thời Chiến Quốc. Đây chính là đèn đồng dùng để giữ mồi lửa khi đúc kiếm cho các bậc vương hầu. Để đúc nên bảo kiếm sắc bén tuyệt luân, ngoài tay nghề cao siêu của các bậc thầy đúc kiếm và vật liệu tinh quý trong ngũ kim ở nơi thâm sơn cùng cốc ra, còn cần có lửa trời để đốt lò, chứ không thể dùng lửa thường ở chốn dân gian được, không có lửa trời, kiếm đúc ra không thể có được kiếm khí lẫm liệt như rồng ngầm hổ rống.

Tuy nhiên, cơ hội lấy lửa trời là hết sức ngẫu nhiên, chứ không phải cầu mà có được, phỉa đợi khi sấm sét đánh túng cây cổ thụ nghìn năm mới sinh ra lửa trời thực thụ. Mấy ngọn Tinh tinh trản treo trong điện đá chính là dùng để giữ gìn mồi ửa trời năm xưa.

Trải qua nghìn năm dâu bể, cho tới ngày hôm nay, lửa đã tắt ngúm, nhưng dầu đèn vẫn còn. Mỗi ngọn Tinh tinh trản gồm có ba phần, một là phần thân đèn bằng đồng, hai là tim đèn, ba là dầu đèn bên trong. Lúc đó bụi bặm tích lại lâu ngày phủ đầy trên Tinh tinh trản, sớm đã bịt kín miệng đèn lại.

Trương Tiểu Biện nằm phục trên xà nhà quan sát một hồi, sau đó thò tay bắt con mèo đen, định noi theo kế của Lâm Trung Lão Qủy để giết con Thần Ngao. Cũng bởi tại hắn mặc bộ đồ của miêu tiên gia nên con mèo đne tưởng là đồng loại, lại nghĩ hắn muốn đùa nghịch với mình, Nó liền kêu meo meo một cái rồi nhảy phóc một cái từ xà nhà lên mái nhà.

Trương Tiểu Biện chụp hụt con mèo liền chửi thầm một tiếng: “Con mèo giặc, trốn rõ nhanh”. Hắn định leo lên mái nhà bắt nó trở lại, nhưng đang chênh vênh trên xà nhà rất cao, nhìn xuống phía dưới là thấy hoa cả mắt. hắn miễn cưỡng bò được lên đến đây là chân tay đã tê liệt cả rồi, Huống chi người không thể giống như mèo, sao có thể nhảy nhót leo tròe trên xà nhà tùy thích được.

Giờ nếu không có con Nguyệt ảnh ô đồng kim tuyến miêu, trương Tiểu Biện hắn cũng khó lòng làm nên chuyện gì ở chốn Hoang táng lĩnh này. Hắn nhìn xuống phía dưới, nuốt ực một miếng nước bọt.bạo gan đứng lên xà đá, định bụng thử bắt con mèo đen xuống một lần nữa, nhưng chân hắn vốn ngắn, nhón gót chụp mấy lần mà không với tới được.

Trương Tiểu Biện cuống cả lên, mồ hôi lanh trên trán chảy ròng ròng, đành phải hạ giọng cầu khẩn: “Miêu nhị ga, đây không phải là chỗ để đùa đâu, mau xuống đi chớ làm hỏng đại kế cảu Tam gia ta… “

Con mèo đen nọ ngồi ở cạnh chỗ mái thủng, vừa thè lưỡi liếm chân, vùa dùng chân xoa xoa lên mặt, tỏ ra rất nhàn hạ, chỉ thấy hai con mắt mèo như dát vàng, ánh lên rực rỡ dưới ánh trăng. Tựa hồ có ý đùa giỡn với Trương Tiểu Biện, nó mặc kệ cho hắn van nài khổ sở, nhất định không chịu xuống.

Trương Tiểu Biện không có được khả năng đi lại như mèo, miws chỉ cử động hơi mạnh một chút đã làm rơi nhiều bụi băm trên xà nhà xuống dưới điện. Con Thần Ngao đang phủ phục dưỡng thân trên bệ đá, nghe thấy hai con mèo hoang trên nóc điện cứ đùa giỡn hoài, lại bị bao nhiêu bụi bặm trút xuống đầu, nó giận lắm, liền ngẩng đầu lên, hung tính trỗi dậy, hận chẳng thể ăn tươi nuốt sống hai con mèo ranh kia được. Mặc dù vậy, viên ngọc Hồ ly trong bụng là một thứ đâị bổ, biến thành sức nóng hập chưa tan, tinh thần con chó hơi mệt, mê man chực ngủ, nó lại nghĩ đến vị thế của mình, không thèm đích thân đi bắt hai con mèo hoang, vì vậy mới chịu nín nhịn không nổi khùng,c hỉ gầm gừ khẽ trong kẽ răng để cảnh cáo rồi tiếp tục lim dim ngủ.

Lần này thì Trương Tiểu Biện sợ tới mức hồn phách suýt nữa lên mây, hắn vội vã cuộn tròn như một con nhím nằm phục trên xà nhà, đến thở mạnh cũng không dám, chỉ có quả tim vẫn thình thịch đập loạn nhịp. Hắn hiểu rất rõ, con Thất tử khuyển này không phải là con chó thông thường, dẫu cho thiên la địa võng cũng không bắt nổi, chỉ cần khiến nó cảm thấy hơi khác lạ là mình sẽ thành tro bụi ngay

Con mèo đne kia vốn rất nhát, cũng rất sợ hãi, lông dựng đứng cả lên định chạy trốn ngay lập tức. Trương Tiểu Biện thầm kêu khổ không thôi, chỉ sợ nó chạy mất liền vội lấy từ trong bọc ra một cái bánh bao nhân cá, hươ hươ lên trên không, dụ con mèo tham lam đến.

Con mèo Nguyệt ảnh ô đồng kim tuyến miêu này vốn có tập tính khác hẳn những con mèo khác, ngoài non gan và tò mò ra, nó thích nhất là ăn trộm cá và đồ tanh. Thấy cái bánh bao nhân cá, mồm nó lập tức nhỏ nước dãi, cặp ngươi vàng tức thì dán chặt vào cái banh bao.

Trương Tiểu Biện thấy tình cảnh như thế, chửi thầm: “Con mèo tham chết toi, lại đây rồi tao cho mày biết tay”, đoạn tiếp tục hươ hươ cái bánh bao trong tay. Nào ngờ con mèo đen vốn sợ con Thát tử khuyển tận gan ruột, tuy mắt dõi theo sát cái bánh bao nhân cá lắc qua lắc lại nhưng cũng không dám nhúc nhích xuống dưới. Trương Tiểu Biện cuống quá liền giơ cái bánh bao nhân cá lên cao một chút, nào ngờ phủ phục trên xà dã lâu, khí huyết toàn thân không thông suốt, các ngón tay đều cứng đờ ra, đánh tuột cái bánh khỏi tay, rơi xuống đúng đầu con Thần Ngao. Con ác khuyển rống lên một tiếng hung dữ, điên cuồng bật người dậy, rồi như một mũi tên rời cung, vọt lên xà nhà. Trương Tiểu Biện mặt như chàm đổ, sợ hãi kêu thầm: “Chết rôi! Đêm hôm nay Trương Tam gia ta phải chết ở đây rồi!”

Đúng là: “Mặc lòng đã sẵn mưu kì diệu; Khó tránh đêm này họa một phen” Muốn biết chuyện sau thế nào, xem hạ hồi sau phân giải.

Hồi thứ 9: Lấy Đèn Trộm Dầu

Nói đến đoạn Trương Tiểu Biện nấp trên xà nhà định bụng tìm cách dẫn dụ con mèo đen trên nóc nhà xuống, chẳng ngờ tuột tay làm rơi cái bánh bao nhaanc á khiến con Thát tử khuyển nổi giận, lao vọt lên không, cuốn theo mọt trận gió âm, định chộp con mèo hoang trên xà nhà để ăn tươi nuốt sống.

Thế vồ của con Thần Ngao hết sức mạnh mẽ, lợi hại, Trương Tiểu Biện cả kinh thất sắc, muốn trốn cũng không trốn kịp nữa, đành nhắm mắt chờ chết. Nào ngờ trong nháy mắt, lúc con ác khuyển chưa vồ đến xà nhà, bỗng nghe mái điện vang ầm lên một tiếng, một đống gạch nát ngói vỡ đổ xuống, bụi bặm tung lên mù mịt.

Số là con mèo đen ngồi trên mái nhà, dán mắt vào cái bánh bao nhân cá trong tay Trương Tiểu Biện, mình rướn xuống phía dưới hơi quá, rốt cuộc mất đà giẫm hụt chỗ trống, đụng rớt mấy mảnh ngói vụn và mọt mảng bụi, rồi cả nó cũng rơi thẳng xuống dưới.

Con Thát tử khuyển phản ứng rất nhanh, đang ở chừng khoong, bỗng thấy ngói, bụi đổ xuống liền lật người tránh qua một bên, thân mình to lớn hạ xuống đất nhẹ nhàng như lá rụng, rồi ngay lập tức ngẩng đầu quan sát động tĩnh ở mái điện. Dưới ánh trăng, ánh amwts nó như điện chớp, lộ rõ vẻ hung dữ phấn nỗ khôn cùng.

Trương tiểu Biện vốn tưởng phen này phải đi gặp DIêm Vương rồi, chẳng ngờ con Thần Ngao không cắn trúng mà chỉ có đống bụi bặm đổ xuống người. hắn vội vã nín thở, dùng tay xua bớt bụi bặm,chợt nghe tiếng xích đồng loảng xoảng, vội giương mắt nhìn xuống phía dưới. Chỉ thấy con mèo đen cũng chưa rơi xuống đất, nhờ vào thân thể nhẹ nhàng, nhanh nhẹn, nó giơ hai chân trước bấu chặt vào mép Tinh Tinh trản, đôi chân sau đang giãy giụa trên không, khiến ngọn đèn đồng chao qua lắc lại như đánh đu.

Ngọn đèn đồng treo lơ lửng trên không bằng một sợi dây xích, con mèo đen vất vả lắm mới trèo đến nắp đèn, rồi run run rẩy rẩy thò đầu xuống nhìn. Thấy con Thát Tử khuyển đang ngẩng đầu, trừng trừng nhìn lên, nó sợ quá, lập tức rụt cổ lại. co ro phía trên ngọn đèn đồng, không con lối nào thoát nữa, cho dù giỏi trèo tường leo cây đến mấy cũng không thể thi triển được.

Lúc ấy, một người, một mèo, một chó, một thì run gan vỡ mật nấp trên xà nhà, một thì mật vỡ gan run bám trên ngọn đèn đồng, còn một thì trợn mắt gườm gườm canh ở dưới điện, vừa đúng chia thành ba tầng trên, giữa, dưới trong tòa điện đá, nhưng không bên nào dám vọng động, chỉ có ngọn đèn Tinh Tinh trản cứ cót ca cót két chao qua lắc lại.

Trương Tiểu Biện và ocn mèo đne không dám cử động vì đnag sợ hãi muốn chết nhưng con Thát tử khuyển cũng không nhúc nhích àm tở vẻ ngạc nhiên dị thường, trái ngược hẳn bản tính hiếu sát lúc thường ngày, đó là vì sao?

Số là chuyện này cũng lắm sự nhiều khê. Đĩa đen đồng dùng để lưu trữ lửa trời nọ bị con mèo đen cóa cấu một chặp, những bụi bặm tích trữ lâu ngày trên bề mặt bị rớt xuống một mảng lớn, mùi hương lạ lập tức tỏa ra. Loài chó đánh hơi rất tài, vừa ngửi một cái, con Thần ngao đã biết không phải là việc tầm thường. Mùi dầu đèn trong Tinh Tinh trản thơm hơn gấp trăm lần mùi dầu thơm khiến nó không khỏi sinh nghi.

Dưới ánh trăng, Trương Tiểu Biện trông thấy rõ ràng, bụng bảo dạ, Miêu tiên gia đã hiển linh rồi, Trương Tam gia đúng là người có số đại phúc đại mệnh, thường có câu rằng: “Gặp thời cỏ mục hơn hoa, vận may bùn đất hóa ra vàng ròng” Thời vận đã đến thì dẫu có muốn ngăn cản cũng không nổi, chỉ vì con Thần nGao đó sát nghiệp rất nặng nên số phận đã định trước phải bỏ mạng ở đây. Bây giờ, hãy xme Nguyệt ảnh ô đồng kim tuyến miêu giở trò gì trên ngọn đèn dầu.

Chỉ thấy con mèo đen định nhảy lên xà nhà để bỏ chạy, nưng không có chỗ nào đẻ leo bám, muốn nhảy xống đất thì thấy con Thần Ngao đang nhe nanh gầm gừ, nhìn chằm chặp. Con mèo lòng run ý loạn, vừa sợ vừa cuống như kiến bò chảo lửa, đúng cũng không vững, đành loanh quanh mấy vòng phía trên ngọn đèn.

Cuối cùng nó nìn ba ngọn đèn đồng xếp hàng một lơ lửng trên không trung, ngọn đèn ngoài cũng khá gần một chỗ vỡ của bức tường đổ, có thể chui qua lối đó để thoát ra ngoài lò đúc kiếm. Nhưng khoảng cách giữa các ngọn đèn rất xa, không tìa nào nhảy trực tiếp qua được.

Có câu rằng: “Chó cùng rứt giậu, mèo vội nhảy lầu”. Lúc ấy, để tìm đường sống, chẳng cần biết có nhảy được hay không, con mèo đen trên ngọn đèn đồng ra sức đu đẩy, chỉ mong nó lắc đền càng gần cái đèn còn lại càng tốt. Con mèo lắc cật ,ực khiến dầu đèn bên trong chao đỏa mạnh.

Đang lúc mừng rỡ, chao qua lắc lại, bỗng nghe con chó phái dưới sủa một tiếng như bò rống, con mèo đen sợ quá, bốn chân nhũn ra, lập tức bò rạp trên ngọn đèn đồng đang chao liệng không ngừng. Chẳng ngờ đèn bì lắc quá mạnh nên nó bị trượt chân lắn xuống phía dưới, kêu lên một tiếng meo thảm thiết, cố hết sức bám chặt vào mép đèn. Nó chỉ sợ rơi xuống ắt sẽ bị con chó khổng lồ bên dưới cắn chết, liền xù lông đuôi, mấy chân cào cấu lên phía trên. Nhưng lúc này cũng chớ phải lo, bởi cú ngã của nó đã khiến ngọn đèn đồng không lắc lư nữa mà lại nghiêng hẳn về một phía cở trên không, dầu đèn trong đĩa lập tức trào ra ngoài.

Dầu đèn nghìn năm vừa thơm tho vừa trơn láng, là vật hiếm có trên thế gian. Con Thát tử khuyển bất giác ngoác miệng, thè chiếc lưỡi dài đón lấy dầu đèn đang đổ xuống. Đêm nay, nó đã ăn sống tim gan của lũ cáo, trong bụng đnag nóng như thiêu đốt, uống được mấy hớp dầu đèn, chẳng những mồm miệng thơm tho mà tinh thần cũng trở nên sảng khoái, hoạt bát nên nhiều.

Lúc ấy, chân con mèo giẫm phải dầu lập tức trượt khỏi đĩa đèn, rới thẳng xuống dưới đất. Con Thần Ngao đang uống sung sướng, đột nhiên bị cắt mất nguồn dầu, lập tức nổi giân, không đợi con mèo đen rơi xuống đã lao lên đón lấy, ngoạm chặt mồm nhưng không dùng sức cắn, trái lại, chỉ lắc một cái, hất con mèo đen trở lại phía trên ngọn Tinh Tinh trản rời trừng mắt gầm gừ, bắt con mèo đen phải tiếp tục nghiêng đèn cho dầu đổ xuống.

Con mèo giữ được mang sống, nào dám không nghe theo, vội vã vận hết sức, đu ngọn Tinh Tinh trản chao liệng một hồi, tiếp tục nghiêng đĩa đèn cho dầu rỏ xuống từng chút một. Con Thần Ngao ở phía dưới thè lưỡi đón lấy không sót một giọt bào, liếm một cách khoái trá.

Thần Ngao tuy cảnh giác và giảo hoạt nhưng chẳng ngờ con mèo hoang nọ đám đưa mình vào bẫy, trong lòng lại đang khô nóng như lửa đốt, vì vậy nhất thời không khỏi chủ quan. Con chó uống dầu đèn tới mức mồm mép trơn nhẫy, chẳng cần biết nhiều ít thế nào, cứ uống lấy uống để, nào ngờ dầu đèn tuy không bổ cũng không độc, nhưng không được uống quá nhiều. tục ngữ có câu: “Dạ dày chó, không tày hai lạng dầu thơm”. Uống quá nhiều thì bugj trướng lên, con chó đã tức thì phọt ra ba cục phân, rồi cả người mềm như bún, chẳng khác nào con cừu.

Trước lúc con Thần Ngao còn chưa kịp trướng bụng phọt phân, thần trí nó mê man bởi dầu đèn, không phân biệt nổi phương hướng nữa. Nó ngầm biết là không hau, cố gắng lăn lộn trên mặt đất hai vòng, nhưng nó càng lúc càng trở nên mơ màng, lảo đảo đập đầu vào tường. Cái đầu chó chuyên húc quan tài quả thực cứng rắn vô cùng, vừa húc vào bức tường lở đã phá sụp một nửa vách, rồi cứ thế sụm xuống đất không thể dậy được nữa, dớt dãi chảy lòng thong bên mép, tiếng ngáy như bì rống, ngủ mê man bất tỉnh.

Trương Tiểu Biện nấp trên xà nhà, nhìn thấy con Thát Tử khuyển ngã ra đất, lòng liên vui sướng như điên, nhưng hắn vẫn không dám sơ suất, tiện tay nhặt hai hòn đá vụn, ném vào mình con chó. Trong bubgj con Thần Ngao toàn là dầu đèn, tâm trí đã hôn mê, cho dù Thái Sơn có đổ ngay trước mặt nó cũng chẳng biết gì nữa.

Trương Tiểu Biện cả mừng, chửi rằng: “Ác cẩu nhà ngươi dẫu có ranh ma cũng phải nốc nước rửa chân của ông”. Nói đoạn, hắn phi thân từ trên xà nhà xuống dưới, bạo gan đạp hai cước vào người con ác khuyển, quả nhiên thấy nó ngủ say đúng như choc hết, liền cười hà hà, nói: “Cái này là ác giả ác báo, nhà người chwos trách Trương tam gia ta lòng lang dạ sói đấy”. Phải biết rằng: “Thương xót thì đừng nên hạ thủ; Xuống tay thì quyết chớ dung tình”. Trương Tiểu Biện thò tay rút ngọn đoản đao Thốn thanh trên người ra, cắt tươi cái đầu chó xuống, đoạn dùng vôi bột rắc lên, bọc vào mấy lớp giấy dầu, bên ngoài dùng một miếng vải rách gói lại, rồi buộc thành một cái tay nải đeo trên lưng.

Trương Tiểu Biện vừa tính rút lui thì nhớ ra còn mấy việc phải làm trước khi trời sáng. Thấy cũng không còn sớm sủa gì nữa, hắn vội vã hành sự. thường đi lại vùng núi hoang nên biết rất nhiều loại rau dại, cỏ dại, thấy có rất nhiều khóm Thất bộ đoạn trường thảo mọc rẩm rạp ở xung quanh lò đúc kiếm, bèn thuận tay vặt lấy, rồi lóc mình trên mình con Thát tử khuyển không đầu, moi ra viên nội đơn của con cáo trong dạ dày chó, nhét vào trong bọc, cuối cùng cả máu chó cũng thu thấp ngọn ngàng sạch sẽ, chất hết vào trong lò chữ Địa.

Tòa điện đá trong hoang táng Lĩnh chia làm hai tầng, lò chữ Địa ở giữa có một cái đỉnh lớn, phía dưới có cửa đốt và hầm đốt. thấy trong núi có nhiều cành khô, củi mục, hắn vội lượm một bó, châm lửa nhóm lò, lại vòng ra phía sau điện lấy chút nước suối, bỏ mấy nắm Thất bộ đoạn trưởng thảo vào trong, nấu thành một nồi canh thịt lớn thơm nức.

Trương Tiểu Biện nhanh chân chạy nhưng cũng phải mất hơn một giờ mới xong. Cuối cùng khi mùi canh thịt trong cái nồi to đã bốc lễn từng đợt, hắn biết việc lớn đã thành, liền vội vã ôm con mèo đen, nấp lên nóc điện.

Chẳng bao lâu sau, bầy chó hoang lớn đang lang thang xung quanh Hoang Táng lĩn bị mùi canh thịt hấp dẫn kéo đến. Chúng đều biết tòa điện đá là sao huyệt của Thần Ngao, bọn chó hoang trong núi đều khiếp sợ thần uy hung tợn của nó nên không con nào dám mạo muội bước vào nửa bước, nhưng mùi thịt càng lúc càng đượm khiến chúng không sao kìm được.

Rốt cuộc ó hai con chó hoang tham lam, liều mạng, nhịn không nổi nữa liền can đảm tiến vào trong. Bọn chó kia thấy thế, chảng nghĩ ngợi được gì thêm, dãi dớt nhỏ ra lòng thong, lập tức nhao nhao tiến vào như ong, tranh đoạt, giằng xé lẫn nhau, ăn sạch sành sanh nồi thịt trong lò chữu Địa, rồi mỗi con tự cuỗm lấy một khúc xương, cắm cúi gặm nhầu.

Dược tính của thất đoạn trường thảo bộc phát, hễ con chó nào đã ăn thịt, uống nước canh lập tức trúng độc ngã lăn ra, cảm thấy như là: “Một hòn lửa nóng thiêu gan phổi; Vạn mũi dùi châm thấu ruột gan”

. Chúng đau đớn lăn lộn khắp đất, không quá thời gian thắp một tuần hương, tất cả đều chết ráo.
Trương Tiểu Biện thấy đạii công cáo thành, bồi hồi như đnag nàm trong mộng. trước đây việc bắt gà trộm chó hắn đã làm nhiều nên giết mấy con chó hoang cũng chẳng nhằm nhò gì, chỉ tấm tắc nể tài tiên tri của Lâm Trung Lão Quỷ, xem ra khoảng khắc thời vận xoay chuyển của Trương Tam gia đã đến rồi. Có điều, đúng là: “Một tướng nên danh,vạn xác phơi” Hôm nay chẳng qua chỉ là một trăm mười mấy con chó hoang, nghĩ tới khi mình ở đỉnh cao chót vót, hoạn lộ thênh thang, hắn không biết rõ còn biết bao nhiêu người phỉa liên lụy đến bỏ mạng vì mình. Trong lòng hắn không khỏi có chút trống rống, chưa biết sẽ là phúc hay là họa.
Lúc ấy, Trăng sáng đã ngả về tây, Phương Đông đã sắp hửng, vùng núi non hoang dã chìm trong bóng tối u âm trước bình minh, Trương Tiểu Biện tuy lòng thắc thỏm không yên nhưng cũng đành ra sức chạy về thành Linh Châu. Hắn vác cái đầu của con Thát tử khuyển, vạch cỏ tìm đường, rời khỏi hang núi, mải miết đi nhanh đến phía cổng thành thì trời cũng đã sáng hẳn. bỗng bên tai có tiếng pháo nổ, chỉ nghe khắp nơi dậy tiếng chem. Giết vang trời, thấy vô số quân Tahsi Bình đầu chít khăn đỏ, như trời long đất lở áp sát tường thành trong tiếng gào thét xung trận, thế quân rất lớn, cơ quạt đao thương mọc kín như rừng.
Thật đúng là: “Đao thương lấp lóa buốt trời rộng; Cờ xí tung bay rợp đất bằng” Muốn biết việc sau thế nào, xem cuỗn Tặc Miêu tập sau sẽ rõ.

[Truyện Ma Voz Dài Kỳ] Tặc miêu – Quyển 4

Rate this post

Related Posts

About The Author