[Truyện Ma Voz Dài Kỳ] Tặc miêu – Quyển 4

Loading...

TẶC MIÊU QUYỂN THỨ 4
THÁP VƯƠNG
Hồi thứ 1: Kinh thiên động địa
Kể từ khi Bàn Cổ Mở trời, Nữ Oa tạo người, Đại Vũ trị thủy đến nay, thiên hạ đã trải qua ba đời hạ Thương, Chu thời thượng cổ, sau đó các nước chư hầu cát cứ, ngũ bá thất hùng làm loạn thời Xuân thu- Chiến Quốc dẫn đến việc tần vương trỏ kiếm quét sạch ngầm trời, rồi khiến cho Hán Sơ tranh đoạt giang sơn… Trong cả một quãng thời gian đó, không thể đếm xuể biết bao lần đổi đời, hưng suy của các triều đại, mãi đến cuối đời Minh, quân thiết giáp Bát Kì vào Quan Nội, đánh một trận quét sạch cả Nam Bắc, bình dịnh Trung Nguyên, thiên tử người Mãn Châu ngồi lên điện rồng ở Bắc Kinh cũng một phen ra sức trông nom chính sự, khiến bách tính được dễ thở một chút, cũng từng xuất hiện cảnh “Khang Càn thịnh trị”, trong nước từng có độ yên ổn vô sự.
Thế nhưng, tới những năm cuối đời Thanh, tầng lớp thống trị phong kiến đã hết sức hủ bại, thù trong giặc ngoài liên tiếp nổi lên. Triều đình bên trong thì ra sức cướp bóc của cải, đè nén người dân một cách tàn khốc, bên ngoài thì cắt đất bồi thường, nhu nhược nhục nhã khiến nghĩa quân khắp nơi dựng cờ khởi nghĩa, thiên hạ đại loạn, trong đó, phong trào thái Bình Thiên Quốc duy trì được thời gian lâu nhất, quy mô lớn nhất, làm lung lay tận gốc rễ sự thống trị của vương triều Mãn Thanh.
Khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc nổ ra từ vùng Việt tay, nhanh chóng lan ra quá nửa thiên hạ. Trong nước lâu nay vốn vô sự, giáp binh đều trễ nải, lực lượng quân sự của đế quốc Đại Thanh từ lâu đã không thể so được với hồi Bát Kì vào Quan Nội. Quân chính quy do “Bát Kì” và “Lục Doanh” hợp thành, đã lâu không tác chiến, cơ bản đã không thể ứng phó được với các trận đánh quy mô lớn, Hoàng đế đành phải hạ chiếu cho các quan lại địa phương chủ trì việc chiêu mộ lính dõng, xây dựng đội quân mới để chống giặc dẹp loạn.
Kỳ thực ra, trong thời kì trấn áp “Bạch Liên giáo” khi xưa, triều đình đã sớm, cảm thấy lực bất tòng tâm, vì vậy bắt đầu cho phép chiêu mộ lính dõng, dùng các lực lượng vũ trang địa phương do quan phủ khống chế thay thế cho quan binh đánh trận. Cuối đời Thanh, có khá nhiều cánh quân kiểu mới, nổi tiếng như “Tương quân”, “Hoài quân”, “Sở quân”… , đều là các toán lính dõng đồng hương. Đồng tộc, nên đánh thế nào cũng không chịu lui, chiến đấu rất ngoan cường,
Chỉ nói riêng về Mã Thiên Tích vốn chỉ là một tri phủ bé nhỏ, nhưng vì có công tổ chức quân đội, binh định giặc cướp nên mới được triều đình phá lệ cất nhắc làm tuần phủ. Lão chẳng những thông hiểu đạo làm quan, trong bụng càng có tài quân cơ thao lược, lại xuất thân từ một danh ngôn vọng tộc có gốc rễ bền ở địa phương,thực là có khả năng to lớn, bao trùm cả một vùng. Tuy nhiên, nếu đổi lại ở thời bình, không có chỗ dựa trong triều, thì dẫu cho có bản lĩnh thực thụ cũng không đủ để đảm đương chức vụ quan trọng, có được hoạn lộ thênh thang. Những người không có quan lại đỡ đầu trong triều Như Mã Thiên Tích thì cũng lắm được một chức vụ nhãi nhép gì đó ở Niết Ty hoặc Phiên ty. Chứ còn các chức to như Tuần phủ,. Tổng đốc thì đừng hòng mơ tới.
Đúng lúc ấy, Việt khấu nổi loạn, cơ hội trổ lại của Mã Thiên Tích cuối cùng cũng tới, lão liền đích thân tìm tới nhiều nàh buôn giàu có, phân tích sự lợi hại để họ xuất tiền, xuất lương, xuất trai tráng, tổ chức huấn luyện để trợ giúp quan quân giữ thành.

Những nhà buôn cự phú đó đều đã kinh doanh buôn bán nhiều đời, chỉ sợ Việt khấu tới phá hủy cơ nghiệp tổ tong, vì vậy đều không tiếc vốn liếng chi viện cho quan phủ. Những người mong muốn loàm lính ăn lương đã không ít, huống hồ lại có cờ chiêu mộ của quan gia. Chỉ cần có lương thực là có thể mau chóng chiêu mộ được một lượng lớn lính dõng.
Dựa vào thành Linh Châu lương thực sung túc vả lại tường thành kiên cố, địa thế hiểm yếu để ác chiến với Việt khấu mấy năm, đánh hàng chục trận lớn nhỏ, chẳng những chưa để mất thành trì mà còn khắc chế được mấy cánh chủ lực của quân giặc nên lính dõng Linh Châu đều dần trở thành một đạo quân mạnh mẽ, thiện chiến.
Hoàng thượng rất khen ngợi chiến công ấy, đặc cách thăng quan cho Mã Thiên Tích, để lão thống lĩnh quân chính sự vụ trong vùng. Nhưng, Mã Thiên Tích hiểu ra như lòng bàn tay rằng “được chim bẻ ná, được cá quăng cơm”, triều đình hứa hẹn ban thưởng “Hoa linh cài mũ” cũng chẳng qua là một lời hứa suông. Nếu muốn mưu cầu việc phong hầu phong tướng, cốt yêu phải dựa vào thực lực của chính mình, ngoài việc kết giao với đám quyền quý trong triều còn phải nhân cơ hội bình loạn trước mắt, ra sức mở rộng lực lượng binh lính. Dưới trướng càng có nhiều quân thì vốn liếng để thăng quan càng nhiều.
Chính vì vậy, trong tay Mã Thiên Tích, ngoài việc nắm giữ quân chiêu mộ bằng tiền của các thương gia, lão còn phủ dụ, chiêu an rất nhiều toán cướp cạn. cướp sông, đồng thời lợi dụng quan hệ, ngầm giao dịch với người Tây Dương, mua về rất nhiều hỏa khí của Tây, phòng thủ thành Linh Châu như tường đồng vách sắt.
Quân Thái Bình liên tiếp mấy lượt công phá thành nhưng gặp phải tường cao hào sâu nên đều chịu thất bại, lại thêm lương thảo trong quân không đủ, khó vây khốn được lâu. Nhưng lần này lại ào ạt kéo tới, có ý quyết chi chiếm bằng được, đợi đến lúc trời tờ mờ sáng, từng đội từng đội quân Thái Bình từ bốn phương tám hướng đều tề tựu lại, trước tiên cho bắn một đợt pháo đá, sau đó đại đội người ngựa cuốn trời rợp đất lao về phía tường thành.
Quân giữ thành Linh Châu đã sắn sàng giương cung tuốt kiếm đợi cả một đêm, thấy Việt Khấu kéo tới như ong, thanh thế cực lớn, tinh kì đầy nội, đao thương như rừng. Mặc dù vậy, lính dõng trong thành phần lớn đều đã trải trận mạc, lúc ấy đều không nôn nóng ứng chiến. Các doạnh đều cuốn cờ im trống, lẳng lặng nằm phục đằng sau bức tường, không nhúc nhích.
Dưới chân tành có ba con hào, hai bên hào đều cho cắm đầy cọc nhọn,. con hào ở giữa rộng nhất, bên trong đầy nước bẩn. Giữa các hào nước đều cho kết hàng rào nhọn lởm chởm để ngăn cản thế tấn công. Đội quân Thái Bình đi hàng đầu đã nhanh chóng áp sát trước hào, phải ngừng lại phá vỡ hàng rào và kiếm thang tre bắc cầu, trong khoảng khắc, vô số binh lính bị hào nước ngăn trở, gào thét ầm ầm, dồn lại một đống.
Lúc ấy, bỗng nghe trên đầu thành có tiếng mõ khua gấp, lính dõng phục trên bờ thành nhất tề hét lớn, chìa súng ống và pháo Phách Sơn ra ngoài. Lập tức khói súng mù mịt, đạn chì rào rạt, quân Thái Bình tập trung dưới thành bị bắn, máu thịt tung tóe, chen lấn, xô đẩy thành một đám hỗn loạn. Nhiều người rơi xuống hào, không bị chông chà đâm chết thì cũng bị chết chìm trong làn nước bẩn, số bịtrúng thương gãy chân, đứt tay càng không đếm xuể, máu đổ đầm đề, ngã xuống đất gào thét thảm thiết. Mặc dù vậy, quân Thái Bình lớp trước ngã, lớp sau lên, vẫn không thiết sống chết kéo đến ùn ùn, tấn công vào tường thành.

Quân thủ thành lập tức cho ném gạch, lăn gỗ. Những súc gỗ đều gắn mảnh đồng, đinh sắt, khi lăn xuống thì tạo thành một đường máu. Chỉ thấy xung quanh thành khói lang, tiếng pháo ầm ầm không dứt, cung cứng nỏ mạnh bắn ra như mưa gào gió giật, giết đến nỗi “thây chất tựa non khe hào chật, máu tuôn như suối đỏ nền trời”. Trận ác chiến kéo dài từ tờ mờ sáng đến giờ Ngọ, quân Thái Bình tử thương vô số, phải tạm thời dừng thế tấn công, bò lại mấy nghìn xác chết mà thu binh rút lui.
Mã đại nhân đứng trên thành, giơ ống nhòm lên để lượt traanhj, phát hiện thấy Việt khấu bại mà không loạn, ở vùng phụ cận tụ tập rất nhiều người ngựa để đóng doanh, hạ trại, bao vây thành Linh Châu tới giọt nước cũng không lọt, xem ra chúng định vây khốn lâu dìa. Trong lòng lão không khỏi ngầm lo âu.
Đề đốc Đồ hải nghe nói Việt khấu đã đại bại dưới chân thành, bị quan quân giết chết vô số, lập tức chỉnh đốn mũ giáp, lên mặt thành quan sát kết quả trận đánh. Lão nai nịt nhung phục đâu đấy, tiền hô hậu ủng đến mấy chục tên thân binh, ngoài gia còn có hai gia nô chuyên vác đại bao, đương nhiên từ xưa đến nay chưa ai từng thất Đề đốc đại nhân dùng đao bao giờ, chẳng qua chỉ là bố trí để thêm oai mà thôi. Khi lên đến đầu thành, vì bộ khôi giáp nặng trịch, hắn mệt bở hơi tai, thở ra hồng hộc.
Vừa nhìn thấy Đề đốc lão gia đến, Mã đại nhân vội sai mang ghế thái sư ra, mời Đề đốc Đồ Hỉa ngồi trên lầu thành để đốc trận. Đề đốc tướng quân thấy thi thể quân Thái Bình la liêt khắp nơi, trong lòng lấy làm đắc ý, liền chỉnh lại mũ khôi, mở miệng cười ha hả, nói với mọi người: “Đương kim Hoàng thượng của chúng ta anh minh thần vỗ thế nàu? Đám phản tặc làm loạn kia thật không biết tự lượng sức mình, chẳng khác nào đem trứng chọi với đá, cos thể làm được bao năm? Ta xem ra, không cần phải dùng đến đạiu quân của triều đình để tiêu trừ, chỉ càn vài trận thế này thì bọn thối tha chúng nó cũng đã bị chúng ta chém hết rồi”
Mã đại nhân vội phụ họa theo, trước tiên nói Hoàng thượng thật là chân long giáng trần, đúng là anh minh cái thế, thần võ vô song, lại khen Đề đốc Đồ Hải đúng là phúc tướng thủ hạ của Hoàng thượng, nhưng thực ra thâm tâm lão vốn không cho là thế. Tuy trận này đã giết và làm bị thương vô số Việt khấu nhưng để thắng được còn phải trải qua nhiều gian nan. Việt khấu hết sức hung bạo, giảo hoạt, nếu chúng đều chỉ đến tìm cái chết như đám sáng nay thì đã sớm bị quan quân quét sạch và trấn áp từ lâu rồi, chứ đâu đợi đến ngày nay. Theo kinh nghiệm trước đây, bọn bị giết dưới chân thành đều chỉ là những dân chạy loạn hoặc tù binh bị Việt khấu bắt được, còn chủ lực của quân địch thì vẫn chưa hề bị tổn thất, chỉ e trận ác chiến thực sự vẫn còn ở phía sau.
Đúng lúc ấy, có một toán quân Thái bình đến trước thành chửi bới, giở ra chiêu chiến tranh tâm lý thời xưa. Những câu mắng chửi không ngoài mấy chuyện: “yêu nghiệt nhà Thanh” đều là lũ yêu ma quỷ quái thành tinh trong hang sâu núi thẳm ở Quan Ngoại, chiếm cứ giang sơn của dân Hán, làm loạn Trung Hoa, lại bắt dân chúng gióc tóc, tết một cái đuôi chó lợn ở phía sau đầu,ai không gióc tóc thì chặt đầu, thật là chẳng còn thiên lý con bà gì. Bọn yêu nghiệt còn dám miệt thị thiên binh, Thiên tướng của Thiên triều chúng ta là giặc cướp mà không biết rằng từ thời cổ, khi Thương Hiệt tạo ra chữ vốn không có hai chữ “tạo phản”, tất cả đều là bọn quan lại ngụy tạo ra để lừa gạt bách tính, khiến dân chúng bị gạt và chịu sự khinh khi của chúng. Trước khi “yêu tặc nhà Thanh” chưa nhập Quan Nội, chả phải đã từng bị chúng ta chửi là Thát tử Mãn Châu sao? Khuyên cá người chớ phản lại lẽ trời mà giúp bọn hung bạo, làm nô tài cho triều địa Mãn Thanh, hãy mau chóng tỉnh ngộ, bắt trói hết quan lại tronmg thành dâng nộp trước trận tiền rồi theo Hông Thiên vương chúng ta giết hết yêu nghiệt nhà Thanh, cùng hưởng đời Thái bình thịnh trị.

Trong thành đã sớm có chuẩn bị, nghĩ sẵn những câu chửi từ trước, sai một toán lính dõng to mồm đấu khẩu bới Việt khấu, nào là bọn chúng aby là bọn thối tha phản nghịch chỉ biết tin vào cái gì “một ngang một dọc”; xưa nay không tuân theo tiên hiền cổ thánh, tên đầu đảng ngụy vương thì ăn mặc theo lối hòa thượng của Tây Dương chẳng qua chỉ là một tên bát tài vô tướng mà thôi. Vốn hứn chính là một con dân cảu quốc triều ta thế àm dám cả gan tiêm nhiễm, mê hoặc nhân tâm, lớn tiếng bảo là con cháu cảu thần tiên Tây Dương, đến tổ tông nhà mình cũng không nhận, bây giờ con dám giương mắt khoanh tay to mồm nói cái gì thiên đạo, kì thực ra có hiểu thiên đạo là gì đâu. Hôm nay bọn các người tử thương thê thảm, hẳn là đã nếm đủ thủ đoạn sấm sét của quan quân, sao còn phải chịu đau khổ đi làm những chuyện đại nghịch bất đạo như thế? Phải biết rằng quay đầu là bờ, khuyên các người chi bằng sớm cải tà quy chánh, mau bắt tất cả bọn ngụy vương, ngụy soái trói nộp trước thành, quan phủ niệm tình các ngươi nhất thời tin lầm vào lời yêu ngôn, nhất định sẽ không truy cứu,c òn thưởng tiền bạc để các ngươi quay về quê cũ, làm một người dân lương thiện, an phận thủ thường, bằng không đợi đến khi đại quân triều đình kéo đến, thiên uy giáng xuống thì các ngươi sẽ đều chịu tội tru di cửu tộc.
Song phương mới đầu có chủ ý khuyên hàn nhưng rốt cuộc chẳng ai nộp thành dâng tù, thành Linh Châu đã nhiều ngăn chặn quân Thái Bình. Trải qua nhiều trận ác chiến, hai bên đều có thương vong, đều hận quân địch đến tận xương tủy, đều hiểu, nếu mình rơi vào tay đối phương thì chẳng có gì hay ho, nhưng cứ mặc sức nói vung thiên hạ thì cũng chẳng chết ai
Chửi mắng đến đoạn sau thì lập tức biến thành một trận chửi bới với những lời lẽ thô tục, không kiêng kị hì nữa, hai bên đều vang những câu văng tục bẩn thịu nơi đầu đường xó chợ, nguyền rủa hết sức độc địa. Tới mãi khi mặt trời gác bóng đằng tây, trận chửi bới loạn tùng bậy, tao mòe mày chó đó nọ cũng còn chưa thôi. Mã đại nhân thấy trong lòng không yên, cứ có cảm giác Việt khấu tựa hồ che dấu hành động nàokhác. Lão liền dẫn mấy tên tùy tòng, tuần sát kĩ một vòng trên mặt thành, dặn dò các doanh phải cẩn thận đề phòng, chuẩn bị nhiều tên lửa, rồng lửa để phát hiện mọi vật từ xa, ngăn Việt khấu nhân trời tối àm lẻn tới cướp thành.
Chính vào lúc đó, Mã đại nhân chợt phát hiện dưới chân thành có điều dị thường. Lão quan sát thấy một mảng cây cỏ ở phía Nam thành lộ ra vẻ trơ trụi héo úa, nhưng nếu không phải người tinh ý và quan sát kĩ hì không dễ mà phát hiện ra được. Càng nhìn càng tấy kì quái, đột nhiên lão tỉnh ngộ ra, trong lòng sợ hãi kêu thầm: “Thiếu chút nữa bị che mắt, hóa ra trong quân Việt khấu có doanh quân đào hầm. Chắc từ tờ mờ sáng đã bắt đầu dòa rồi, định đào hầm đặt thuốc nổ làm sập tường thành, có lẽ chúng đợi đến khi trời tối sẽ phá thành. Lõa còn chư kịp nghĩ xong thì nghe thấy một tiếng nổ lớn long trời lở đấtm rung chuyển núi non, sập nàh đổ cửa
Thế mới là: “Trời nghiêng đất lật bao giờ nhỉ; Hổ đấu rồng tranh áh chịu thôi?” Muốn biết sự thể thế nào, xem hồi sau sẽ rõ.
Hồi thứ 2: Mây mù biến hóa
Lại nói, xưa nay hai phía giao phong thì việc quân không ngại dối trá. Doanh lính đào hầm của quân Thái Bình nhân đêm hôm trước bắt đầu đào một đường hầm, rồi ban ngày nửa buổi đánh thành nửa buổi sai lính chửi mắng, chừng như dẫn dụ dân binh ra ngoài thành quyết chiến, kỳ thực ra, đó đều là động tác nghi binh. Trong bóng tối, quân Thái Bình đã âm thầm đaò được một đường hầm vừa sâu vừa rộng, vận chuyển vào trong một lượng lớn thuốc nổ, định bụng tới đêm sẽ châm ngòi nổ, phá hủy bức tường thành cao lớn, kiên cố của Linh Châu.

Nhưng, trong thành Linh Châu đã sớm có cao nhân xếp đặt, bố trí phòng vệ như tường đồng vách sắt, hơn nữa, biết quân Thái Bình quen dùng ngón đào hầm nổ thành nên đã có sự bố thành từ trước, chôn dưới chân thành có rất nhiều pháo Ngũ lôi khai hỏa. Quân Thái Bình không hề ngờ đến điều đó, quả nhiên có tên vô ý chạm nổ pháo ngầm khiến số lượng thuốc nổ vừa mới vận chuyển vào đường hầm phát nổ theo. Lập tức, hơn nghìn người bị nổ tan xác, những kẻ không bị nổ chết thì cũng bị đất đá chôn vùi trong lòng đất.
Cũng bởi lượng thuốc nổ trong đường hầm quá nhiều, uy lực khi phát nổ cực lớn, gây chấn động mạn, làm móng tành rung chuyển. Những căn nhà gần chân thành phía Nam đều bị đổ sập một dãy, đè chết rất nhiều quân dân Linh Châu.
Ngay lúc đó, quân Việt khấu đang tập kết ở phía ngoài cửa Nam nhân lúc quan giữ thành hỗn loạn, liền nổi trống điều động đại quân giơ khiên nặng tầng tầng lớp lớp, vác thang mây ào ạt tấn công tành Linh Châu.
Lính dõng giữ trên mặt thành vẫn dùng Phách sơn phái, súng trường, súng phun lửa, ten nỏ, bình vôi, đá hộc, gỗ súc chống lại. Tuy nhiên, cánh quân Thái Bình này là quân tinh nhuệ trong các doanh cũ ở Việt tây, thân trải trăm trận từ Nam chí Bắc, chẳng phải toán binh lính ô hớp đánh thắng hồi sáng, đội quân này lấy thuẫn da khiên mây to nặng kết thành trận thế, che trân đầu kín bưng, mặt trân thuẫn bài phần lớn đều dát đồng lá, cản được loạt tên bắn, đạn súng, đá hộc như mào gió giật trút xuống từ trên thành.
Quan quân chỉ còn cách dùng Phách Sơn pháo và Hổ Tôn Cữu pháo để oanh kích, tuy sát thương được nhiều quân địch nhưng cánh quân thái Bình đó tiến đánh rất nhanh, tựa như từng đám gió lốc màu đỏ rực. toán tiên phong liều chết áp sát đến phía trước, dùng bao cát lấp đày các khe hào, đại quân phía sau lũ lượt vượt qua, đánh tới góc chết ở chân thành, nơi hỏa pháo không thể bắn tới, rời lập tức dựng thang mây, tranh nhau trèo lên mặt thành.
Cánh quân Thái Bình xung phong trèo lên mặt thành đều là những thiếu niên có thân thủ nhanh nhẹn chẳng kém gì loài vượn, khỏe mạnh, dẫu cho tên đạn tơi bời nhưng không hề sợ sệt, trèo thang lên mặt thành như đi trên đất bằng, chỉ cần lên đươc đến mặt thành là dùng binh khí ngắn hỗn chiến với đối pương, đến lúc ấy thì thành Linh Châu thất thủ là cái chắc.
Dưới chân thành có vô số tướng sĩ quân Thái Bình thấy cánh tiên phong trong phút chốc sẽ lên được mặt thành, đều cho rằng sắp sửa phá được, lập tức sĩ khí dâng cao, rút đao thương gioe lên như phát cuồng, hò hét: “Vào thành giết hết Thanh yêu! Giết hết Thanh yêu hưởng thái bình!”Tiếng hô giết chóc tựa như núi gầm biển động, nuốt chửng lấy tất cả
Mã Thiên Tích tuy hiểu binh pháp nhưng không phải là một võ tướng, mới rồi bị tiếng nổ dưới lòng đất chần động làm người đờ đẫn ra, phải cậy mấy tên thân tùy dìu vào trong lầu thành, một lúc sau mới tỉnh táo trở lại. Lúc ấy, nghe phía đầu thành đang đại loạn, lão vội vã đứng dậy nhòm qua lỗ bắn tên nhìn ra ngoài, vừa nhìn thế trận đã hiểu ra đội đánh thành toàn là quân tinh nhuệ của Việt khấu, lính dõng thành Linh Châu tuy đều dựa vào hỏa khí lợi hại để liều chết ác chiến với quân địch nhưng đã mất đi tiên cơ, sắp ngăn không nổi nữa.

Mã Thiên Tích đúng là một người có tài làm tướng, lâm nguy mà không loạn, vội vã hạ lệnh kéo một ngọn đèn lông đỏ lên trên lầu thành. Ngọn đèn lồng đó báo hiệu cho các doanh lính dõng dùng nước “thương thủy” để chống dịch, thật là: “Nguyên soái màn trướng lập mưu; Tướng lính xung trận để liều lập công”
Linh Châu là thành cổ nghìn năm, là vùng đất xưa nay tranh đoạt, đằng sau tường thành đặt rất nhiều nơi giấu quân. Mã tuàn phủ từu sớm đã bố trí tráng dinh nấp trpng các chỗ đó để nổi lửa đốt những nồi lớn, đun sôi hàng loạt nối nước “thương thủy”. Nước “thương thủy” được chế ra từ dầu nóng trộn với cứt đái và vôi bột nấu lên, đun đi đun lại nhiều lần.Lúc ấy các nồi “thương thủy” đang sôi sung sục được đổ vào các ống gỗ rồi cuyển từng ống từ tường thấp lên trên mặt thành, đổ vung từng ống một xuống phía dưới.
Khiên dầy thuẫn nặng tuy có thể ngăn được đá hộc, gỗ súc nhưng không thể ngăn được chất lỏng. Da thịt người chỉ cần bị dính thứ nước thương thủy nóng gỏng này là lập tức sưng phồng kên, mau chóng rữa nát, cho đến khi lộ ra xương cốt trắng hếu. Nếu tay chân bị bỏng còn may ra để người kế bên dùng đao, búa chặt đứt, kịp thời giữ được tính mạng, nhưng chỉ cần trên người, trên đầu bị dính một chút thì đến thần tiên giáng trần, Hoa Đà tái thế cũng không cứu được, thực là độc địa vô cùng
Quân giữ thành trút thương thủy sôi sung sục xuống, lập tức khiến vô số quân Thái Bình bỏng chết hoặc bị thương, những người đang trèo thang mây cũng gào thét thảm thiết ngã xuống phía dưới, quân lính dồn dưới chân thành cũng loạn cả thế trận, quân Thái Bình bị chết bởi thương thủy nhiều không đếm xuể. Cả đại đội người người đều phải rút về phía sau, lính dõng Linh Châu thừa cơ dùng hỏa khí oanh kích lại. khiến quân Thái Bình phải bỏ lại phía sau rất nhiều tử thi.
Mã đại nhân tuy ngoài mặt từ bi hỷ xả nhưng kỳ thực lòng lang dạ sói, am hiểm hiếu sát, thấy dưới chân thành xác chết chồng chất như núi, lão chẳng hề nhíu mày, chỉ hận rằng vất vả lắm mới phá tan được chủ lực của Việt kháu nhưng lại chẳng có đại đội quân nào ở ngoại vi để thừa cơ xông ra chém giết, bằng không nhất định có thể cất tay một trận mà tiêu diệt được cả, lập nên kỳ công bất hủ.
Tạm không nhắc đến việc quân Thái Bình bị tan vỡ thảm thương dưới chân thành Linh Châu và quân dân trong thành chỉnh đốn giới bị ra sao, lại nói riêng về Trương Tiểu Biện bọc cái đầu chó Thần Ngao, từ Hoang Táng lính quay về lúc tờ mờ sáng, đúng lúc gặp phải Việt khấu đánh thành. Hắn thấy tình thế không ổn, vội vã co đầu rút đuôi nấp trong khe núi. Nghe tiếng gào thét giết choc rung trời từ phía thành Linh Châu, không rõ chiến cuộc ra sao, hắn không dám vọng động. Đợi mãi đến lúc hoàng hôn, thấy đại quân Thía Bình tan vỡ rút lui, tiếng pháo dần dần im bặt,hắn mới ngầm quay về thành trong đêm tối.
Sau cả một ngày trời kịch chiến, các cửa thành Linh Châu đều đóng chặt, Trương Tiểu Biện mò mẫm trong bóng đêm tới trước cửa thành, thấy tử thi dưới chân thành tầng tầng lớp lơp đè lên hau, kẻ trúng thương dính tên, người mất chân, cụt đầu, thủng bụng, sổ ruột… chết kiểu nào cũng có, ngay cả trong hào nước cũng lấp đầy xác chết, bọn lợn rừng, chuột rừng tranh nhau rỉa thịt. Hắn thấy vậy không khỏi kinh hãi, vỗi vã bắn một mũi tên gió lên trên lưng trời để người trên thành thả giỏ tre xuống tiếp ứng.

Tôn Đại Ma Tử vất vả chờ đợi trên thành đúng một ngày một đêm, toán công sai đã sớm bỏ chạy từu lâu. Cho dù lúc quân Thái Bình đánh thành kịch liệt nhất, gã vẫn trước sau ở lại trên thành, chỉ sợ bỏ lỡ mất tín hiệu của Trương Tiểu Biện. bấy giờ thấy trời đất tối đen, gã tưởng Trương Tiểu Biện đã bỏ mạng trong đám loạn quân, đang định tìm cớ ra ngoài tìm xác, bỗng nghe thấy tiếng tên xé gió, lập tức thả giỏ tre xuống kéo Trương Tiểu Biện lên Giao tình của người đời phần lớn đều đặt chữ “lợi” lên hàng đầu, tiền bạc không nhiều thì tình cảm không bền, nếu không mưu đồ việc lợi lộc thì phần nhiều là loại kết giao đầu môi chót lưỡi, bạn bè rượu thịt. Thế nhưng, gã và Trương Tiểu Biện kết giao sinh tử từ trong hoạn nạn, khác hẳn tình bạn thông thường. Lúc ấy, cả hai cùng nhìn nhau, thấy máu me đầy mặt nhưng vẫn may mắn còn sống sót thì đều mừng rỡ khôn cùng.
Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử chỉnh đốn lại trang phục rồi cùng nhau đến bái kiến Tuần phủ Mã đại nhân. Đại quân Việt khấu vừa rút quân xong liền thu thập giáp binh ngoài mấy chục dặm, nhưng vẫn tiếp tục vây thành Linh Châu. Mã đại nhân cũng không dám nghỉ ngơi, bận rộn kiểm điểm số thương vong và điều kiến lính dõng từ các nơi, nghe nói Trương Tiểu Biện từ Hoang Táng Lính trở về, chưa biết chuyến đio thành bại ra sao, vội truyền họ vào.
Trương Tiểu Biện hành lễ rồi mở tay nải trên lưng ra, cho mọi người nhìn thấy cái đầu chó, đồng thời đem hết câu chuyện ra kể qua một lượt. Hắn biết mình dẫu có mọc thêm lưỡi cũng không che mắt được Mã đại nhâ, không dám ba hoa nhiều, những chuyện trải qua lần này phần nhiều là sự thực, chỉ riêng về Lâm Trung Lão Quỷ thì hắn không đề cập đến một câu một chữ,
Bên trong sảnh đường đang tụ tập rất nhiều quan lại, đều đã tận mắt chứng kiến con Thần Ngao ở Hoang Táng lính hung dữ ra sao khi wor trên pháp trường hành hình Phan hòa thượng. Chẳng ngờ rốt cuộc, con chó dữ bị tên tiểu tử Trương Tiểu Biện một thân một mình giết chết, ai nấy đều không khỏi há hốc mồm, không dám tin đây lại là sự thực.
Chỉ có Mã đại nhân vui mừng ra mặt, lão vỗ tay khen ngợi, than phục thuật xem tướng mèo quả nhiên khác hẳn các thủ đoạn tầm thường, có thể khai khiến con mèo láy đèn trộm dầu làm cho con Thần Ngao mê man. Cách dùng mẹo thắng địch này, thực không phải dễ mà nghĩ ra được. Từ đó, lão càng nhìn Trương Tiểu Biện với một con mắt khác, lại bảo với mọi người cũng có một ví dụ: chuyện kể về một con cá ngao già ở biển, thấy biển trời mênh mông, liền khinh thường con ếch ở đáy giếng thấy trời to bằng cái vung. Nó lại không biết đâu rằng, con đại bang cánh vàng trước xa giá của Phật tổ chỉ cần cất cánh một cái là đã có thể bay tới tận chân trời góc bể. Thế mới nói, ngoài núi còn núi, ngoài trời có trời, đã là nước bể thì đấu đong không hết, người phàm không thể đoán biết được. Phải chăng, Hàn hầu, Mông Chính, những nhân vật lớn thời xưa, lúc đầu đều phải chịu cảnh nghèo đói, khốn khổ, do đóm chớ lấy mắt thịt người ytaanf ra mà so đo gốc tích của kẻ anh hùng.
Chúng quan đều vội rối rít khen ngợi, Trương Bái đầu đúng là cao nhân bất lộ trường, quả nhiên có bản lĩnh thực thụ, nhân tiện ca ngợi Mã đại nhân có huệ nhãn nhận ra anh hùng, có thể phân biệt được kì nhân dị sĩ trong thiên hạ, không câu nệ khi đề bạt nhân tài, bọn chúng tôi muốn theo cũng không kịp, Hôm nay, trước là đại phá Việt khấu, sau là trừ được đại họa cho thành Linh Châu, thực alf đáng vui, đáng mừng, thánh thượng mà biết ắt sẽ trọng dụng, xem ra Mã đại nhân sẽ nhận được đặc chỉ thăng chức trong nay mai.

Mã đại nhân khen ngợi Trương Tiểu Biện một hồi, thưởng cho rất nhiều tiền bạc, bảo hắn tạm về nghỉ ngơi. Trương Tiểu Biện rốt cuộc cũng trổ được tài nghệ trước mặt mọi người, tuy chưa phải quá nở mày nở mặt nhưng trong lòng cũng ngầm đắc ý, cho rằng mình đang là rồng khô gặp nước, cảnh tượng hưởng thụ sung sướng ắt chẳng còn bao xa nữa. Trương tam gia a sinh ra đã không phải là hàng phàm phu tục tử, nếu không khiến cao tính đại danh được truyền tụng mãi ở khắp làng xa thôn gần trong thiên hạ thì thật là không phải với bản thân. Cỏ nhân có câu rằng: “Phượng đậu cành ngô, rồng vẫy khe vực, vật đều có nơi, ai nấy riêng phúc”, Nào phải là điều vọng tưởng, nằm mơ giữa ban ngày?
Trương Tiểu Biện đắc ý, vui lòng nhận bạc thưởng, cùng Tôn Đại Ma Tử quay về nhà trọ, ăn thịt uống rượu no nê, rồi lăn ra ngủ không biết trời nam đất bắc thế nào, trong giấc mộng đẹp còn thấy mình một đêm được thăng quan phát tài. Đúng lúc hồn đang lơ lửng trên mây, trong mơ chỉ thấy trời cao đất rộng, thoáng đãng vô cùng, chợt bị hai tên công sai đến tận đàu giường kéo phắt dậy, nói là Mã đại nhân muốn hắn mau chóng tới nghe lệnh,
Sô là, trong thành Linh Châu xuất hiện một việc lạ. Hồi đầu hôm, Việt khấu đã bị sập địa đạo ở ngoài thành, tuy tường thành chưa bị tổn hại nhưng phía Nam thành có mấy chỗ nhà cửa bị rung đổ, trong lúc dọn dẹp bãi đổ nát, xúc các ngói vỡ đá vụn ra, thấy ở mặt đất bị chấn động nứt ra một vệt lớn, mây mù trắng xóa từ bên trong không ngớt phun ra. Lúc đầu thì không thấy có điều gì lạ, nhưng càng lúc mù trăng càng dày đặc, ngưng tụ biến hóa, mãi mà không tan, dần dần tạo ra hình ảnh một tòa tháp cổ. Tuy chỉ có viền bên ngoài nhưng thấy rõ đó là một tòa tháp lục giác linh luing có mười sáu tầng mái, mỗi tầng đều rõ ràng dị thường, thậm chí những chỗ rường cột đổ nát cũng trông rõ mồn một.
Mù trắng hóa thành tòa tháp cổ cao chọc trời, lớn như tháp thật, chầm chập bay lên trên không trung rồi đứng im lơ lửng giữa trời. Lúc ấy mặt trời đã lên cao, trời quang mây tạnh, tầng không bốn phía xanh ngắ, chỉ duy có đám mây mù hình cái tháp là vẫn quần tụ không tan, đúng là kì lạ không để đâu cho hết. Những bậc hiểu rộng biết nhiều trong thành cũng không rõ là hiện tượng dị thường gì.
Ngay cả quân Thái Bình bên ngoài thành cũng trợn mắt há mồm nhìn, ai nấy đều đứng ngắm từ xa, trong lòng rất sợ hãi, còn tưởng là bọn yêu quái nhà Thanh trong thành giở tà thuật gì, đành phải tạm thời bỏ ý định đánh thành. Nhân tâm trong thành Linh Châu cũng hoảng hốt không yên, lời đồn đại lan truyền khắp nơi, có người bảo rằng do chấn động đã làm mở ra động yêu, phủ quỷ, có người bảo rằng đó là con mãng xà dưới đất nhả mù, mọi người bàn tán phân vân nhưng không ai dám đi xuống để thăm dò hư thực, còn có người hiến mưu kế với Tuần phủ đại nhân rằng, hình ảnh tòa tháp trên mây rất cổ quái, không biết điềm lành dữ thế nào, ắt căn nguyên xuất phát từu lòng đất. Trong đám công sai ở nha môn chúng ta có Tam ban Tứ khoái, trong đó có vị Trương bài đầu tài nghệ cao cường, mưu kế xuất chúng, vả lại học được dị thuật, nay nuôi quân ngàn ngày, dùng quân một giờ, sao không sai đi thăm dò đầu đuôi một chuyến.
Thật là

: “Tìm kim đáy nước nên bơi xuống; Mở cửa biển sâu phải lặn ngay” Muốn biết sự thể thế nào, hạ hồi phân giải

Hồi thứ 3: Vua của tháp cổ
Trước hết để mở đầu cho hồi này, có câu rằng: “Hiểu rộng sự đời chớ nói ra. Chỉ cần đầu gật với người ta. Nếu như đến mức đầu không gật. Yên ổn tiêu dao ắt chẳng xa” Nói về việc người ta phải chịu vô số phiền não, đau khổ trên đời, thực ra đều là tự mình chuốc lấy mà thôi, thế mới gọi là: “Thị phi cũng bởi lắm lời; Ưu phiền cũng tạo cố tòi mặt ra”. Vì vậy, xin được khuyên quý vị, cho dù trong lòng có biết nhiều hiểu rộng bao nhiêu cũng đừng dễ dàng trổ rõ ngón nghề trước mặt người khác, tránh rước vào những chuyện thị phi rắc rối vô cùng vô tận.
Cũng chỉ vì Trương Tiểu Biện bày kế giết chết con Thát tử khuyển ở Hoang Táng Lĩnh, khi trở về đã khuênh khoang, tự thổi phồng ngón nghề cao cường của mình trước mặt mọi người. Dù sao chăng nữa, hắn còn trẻ người non dạ, huyết khí phương cường, càng không biết đến quy củ chốn cửa quan, kết quả là tự đẩy mình vào nơi đầu sóng ngọn gió. Giờ đây, khi trong thành Linh Châu xuất hiện hiện tượng mây mù biến hóa lạ lùng, đương nhiên đám quan lại sẽ đẩy họ Trương nhà hắn đi thăm dò xem rốt cuộc là vật gì tác quái.
Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử ngơ ngơ ngác ngác bị gọi đến cửa Nam, vẫn còn chưa rõ đã xảy ra chuyện cháy nhà chết người gì. Mã đại nhân gọi họ đến bên cạnh, chỉ ngay vào đám mây mù dày đặc trước mặt, đang kết thành hình tòa tháp cổ rồi nói rõ nguyên do.
Nghe nói, trong thành Linh CHâu mấy trăm năm trước từng có một tòa bảo tháp, hùng tráng nguy nga, cao vút mây xanh, được coi là vua của cổ tháp trong thiên hạ, trong tháo lại thường có yêu tinh ẩn nấp, thỉnh thoảng phát sinh ra những câu chuyện kì quái đến rợn người.
Trong đó, li kì nhất là những chuyện về kỳ quan”Hiện tháp”, đồn rằng cứ mỗi sáu mươi năm lại xuất hiện năm lần. Cách mười hai năm xung quanh thành Linh Châu lại nổi lên đám mù trắng, mặt trời chiếu vào sẽ hiện ra vô số hình ảnh cổ tháp. Trong mây những bóng tháp lớn nhỏ không giống nhau, biến hóa muôn vẻ, tòa trước vừa mới mờ dần đi thì tòa khác lại xuất iện ngay sau đó.
Thời gian xuất hiện bóng tháp lâu nhất cũng không quá nửa canh giờ, thường liên tục xuất hiện 64 tòa bảo tháp. Tương truyền rằng, đó là các tòa tháp ở khắp nơi trong vòng trăm dặm, hiện lên để triều kiến Tháp vương theo định kì.
Về sau, cổ tháp trong thành Linh Châu bị binh hỏa thiêu hủy, từ đó hiện tượng trên không còn tồn tại nữa, đến người dân bản địa cũng không mấy ai hay về truyền thuyết cũ này, Mã đại nhân là người thông hieur địa chí của nhiều địa phương, vì vậy mới biết hồi triều trước, đúng là có những hình tượng kì dị do ánh sáng tạo ra như thế, song mặc dù đã có ghi chép rõ ràng nhưng những lí luận được đề cập đến thì không đáng tin. Hiện tượng này giống như sự khúc xạ gây ảo giác. Vì tòa tháp vương quá cao đỗi, một lúc nào đó, ánh mặt trời phản chiếu bóng tháp cổ Linh Châu lên tầng mây, rồi tùy theo sự biến đổi của những đám mây quần tụ trên trời mà xuất hiện vô số bóng tháp biến hóa, sản sinh ra truyền thuyết về hiện tượng “Hiện tháp” kì lạ.
Những sự thể hiện giờ không hề giống xưa, hai hôm trước Việt Khấu đinh cho phá nổ thành nhwung không được, lại khiến nhà cửa mấy nơi trong thành liên tiếp bị rung đổ, đúng vào nơi có di tích cũ của tòa tháp vương khi xưa. Lòng đất dưới đống đổ nát bị nứt toác ra một khe hở, mù trắng bốc lên nghi ngút. Đám mây mù tựa hồ như có hình có chất, lơ lửng trên không rồi ngưng tụ, biến hóa thành hình dạng tòa tháp cao, hiện tượng lạ mãi không biến mất.

Mã Thiên Tích nói với Trương Tiểu Biện, tòa tháp cao làm bằng mây mù này có 16 tầng, hình dạng giống tòa tháp vương đã bị phá hủy thời xưa như 2 giọt nước, dường như tòa tháp cổ năm xưa như đang hiển linh vậy. Những chuyện lạ lùng này không thể lí giải được, khiến quân dân trong thành hoảng hốt. Trong khi lòng người lo sợ, lời ngoa truyền nổi lên rất nhiều, ba bè bẩy mối, bây giờ chính lúc Việt khấu bao vây tấn công thành, chỉ cần sơ suất một chút cũng không được, bản quan định tìm mấy hỏa hán nhanh tay tinh mắt, có đảm lược hơn người đi vào địa động dưới chân đám mây mù một chuyến để điều tra cho rõ ngọn nhành.
Trương Tiểu Biện nhanh nhảu tinh ý, không hiểu tới khi Mã đại nhân nói xong đã hiểu rõ sự tình, chuyện tới nước này, nếu từu nan thoái thác thì không phải, mình đi làm cũng không được, đợi đến khi bị Mã đại nhân điểm mặt gọi tên, chẳng bằng Tam gia ta phen này làm một hảo hán, chủ động đứng ra. Vì vậy, hắn tiến lên phía trước nhận lênh.
Lần trước, trong Miêu Tiên từ, Trương Tiểu Biện gặp lại Lâm Trung Lão QUỷ lần thứ hai, được lão dạn dò rất nhiều chuyện. Lúc ấy, Lâm Trung Lão Quỷ từng bảo Trương Tiểu Biện muốn lên cao hay bay xa nhất định phải chịu mạo hiểm, thực hiện mấy việc lớn mà người thường không thể làm cho thành Linh Châu. Cái gọi là: “Vào sinh ra từ không gì khác, chỉ muốn thành danh nổi bốn phương“, chỉ khi nào có tiếng tăm mới có cơ hội phong hầu, phong tướng,chứ nếu cả đời cứ lo này lo nọm, có đầu rút đuôi, đi lên sợ cọp, quay về sợ beo thì vĩnh viễn sẽ chỉ là một thằng vô danh tiểu tốt mà thôi.
Những việc này đều can hệ đến chuyện thành bại, hưng suy, vinh hóa hú quý một đời của Trương Tiểu Biện. Chuyện thứ nhất là bắt giết con Thần Ngao trong Hoang Táng lĩnh, đến nay đã làm xong, cái đầu có đã bị quan phủ cho treo suốt ngày đêm trên phố để thị chúng, còn việc thứ hai chính là việc liên quan đến tòa tháp vương, cũng là chuyện người thường không thể làm được, may thay Lâm trung Lão Quỷ đã vạch ra đại thể đường đi nước bước, việc còn lại thì còn phải dựa vào sức của hắn, tùy cơ hành động.
Trương Tiểu Biện liền bẩm báo với Mã đại nhân, đại động tuôn ra mây mù trắng này đích xác là di chỉ cũ của ngôi chùa Tháp Vương ở Linh Châu trước đây. Cổ tháp đã bị tàn phá nhưng nền tháp vẫn còn trong lòng đất đến giờ, có điều dưới tòa tháp không phải là địa cung mà là một giếng nước rất sâu, đáy giếng có một cái Phong Vũ chung, là một cái chuông cổ đúc bằng đồng từ đời xưa. Mỗi khi mưa gió kéo đến, Phong Vũ chung liền tự ngân lên, thường rất linh nghiệm,. Hồi trước, cái chuông được đặt trong chàu để hưởng hương khói, về sau những tăng nhân trong chùa đã đem giấu vật này dưới đáy tháp để tránh nạn binh đao. Sự ngưng tị mù trắng hôm nay chính là hơi báu xông lên từ đáy giếng, không quá hai ngày sẽ tự động tan biến.
Mã đại nhân nghe thấy hết rất kinh ngạc, không bao giờ tưởng tượng một tên du đảng rỗi việc ở đầu đường xó chợ như Trương Tiểu Biện lại thông kim bác cổ đến thế. Theo sách vở chép lại, đúng là có một vật là Phong Vũ chung, nhưng tòa tháp đã bị hủy mấy trăm năm, nào ai biết có vật gì đang được giấu trong đáy giếng cổ ở đáy tháp.
Trương Tiểu Biện không dám nói là Lâm Trung Lão Quỷ đã tiết lộ thiên cơ, chỉ nói là hắn từu nhỏ đã chăm chỉ hiếu học, từng bái rất nhiều danh sư làm thầy, được cao nhân truyền thụ. Tục ngữ có câu: “Giếng đào ba lần ngọt nước; người được ba thày tài cao“, hắn chẳng những biết được thuật xem tướng mèo mà còn học được từ một vị đạo trưởng thuật tìm kho báu, thông hiểu lai lịch các loại báu vật trong thiên hạ và các ngón nghề lấy báu vật khác.

Mã đại nhân nghe lời lẽ của hắn không khỏi có chỗ ngôn quá kỳ thực. bán tín bán nghi, nhưng cũng thấy rõ phần xác đáng, chắc hắn có thủ đoạn để đối phó, lão ngoài mặt không lộ vẻ gì, chỉ hơi gật đầu khen rằng: “Trương Bài đầu đúng là một kỳ nhân vậy!” đoạn hỏi: “Ngươi có dám đem mấy thủ hạ xuống đáy giếng mò cái Phong Vũ chung lên cho bản quan được mởrộng tầm mắt không?”
Trương Tiểu Biện bẩm rằng: “Ân tướng có chỗ chưa biết đấy thôi, trong đáy giếng này còn có hai con cá chép bảy vàng, chuyên môn canh giữ Phong Vũ chung, không cho ai lại gần. Chúng sống lâu năm, đã có chút đạo hạnh, lính dõng tầm thường đi vào chỉ uổng mạng mà thôi. Tiểu nhân tuy bất tài nhưng nguyện cùng Tôn Bài đầu mang theo mấy chục con mèo khoang Linh Châu xuống đó. Liều một trận thập tử nhất sinh, nhất định tìm được cách lấy đươc Phong Vũ chung, sáng ngày mai sẽ dâng lên công đường của ân tướng”
Mã đại nhân nói: “Thật là can đảm! Nhưng bây giờ khác trước, đang là lúc dẹp giặc, trong quân không được nói đùa, nếu các người hoàn thành việc này, từ này về sau bản quan nhất định sẽ cất nhắc, trong dụng các ngươi” Nói đoạn, lão căn dặn một hồi, phái quân trấn giữ bốn phía không cho những kẻ rỗi việc lại gần, cất một toán lính dõng chuyên nghe Trương Bài đầu sai khiến, sau đó sai người đi tuần thị sự bố phòng trong thành.
Trương Tiểu Biện nói một tráng trước mặt mọi ngươi, nhưng thực chất trong lòng cũng chỉ nắm được dăm ba phần mà thôi. Nghe ý tứ trong lời nói của Mã địa nhân khác nào bắt mình lập một tờ quân lệnh trạng, làm được thì mọi sự tốt đẹp, bằng không thì mang đầu đến mà nộp. Tình thế đã như tên nắp trên dây cung, không còn đướng rút, chỉ còn cách cầu mong Miêu tiên gia hiển linh phù hộ để Trương Tam gia mã đáo thành công mà thôi.
Trương Tiểu Biện tìm mua một ít bánh trái, dắt vào người rồi đến thẳng Miru Tiên từ. Hắn và Tôn Đại Ma Tử vào đến trong miếu, khấu đầu mấy cái trước Miêu tiên gia, dâng hai nén nhang rồi ngồi dưới đất sửa soạn, chỉnh đốn một chút.
Tôn Đại Ma Tử phục Trương Tiểu Biện đơn thương độc mã đi lấy thủ cấp của con Thần Ngao sát đất, vừa mới rồi lại thấy hắn nhận công việc do Mã đai nhân sai phái, không biết đã có diệu kế gì. Trong lòng gã cứ thấy lạ lùng nhưng không dám đường đột nói ra, đến lúc đó mới hỏi cách hành sự thé nao. Có lời rằng: “Việc của quan, tham làm nhọc thân“, hạn trong một ngày một đêm lấy được Phong Vũ chung liệu có quá gấp háp không? Đangra nên từ từ thương nghị kế sách hoặc xin một thời hạn thong thả thì tốt hơn.
Trương Tểu Biện tuy trong lòng chưa có cách gì nhưng ngoài mặt vẫn loam bộ thản nhiên như chưa có chuyện gì xảy ra, cũng chửng nói rõ với Tôn Đại Ma tử mà chỉ ba hoa rằng” Nghĩ lại hồi trước, khi ở trong làng Kim Quan, đám ngu dân trong làng đâu cso xem ta ra gì? Chẳng qua hồi đó vì chúng ta còn nghèo khổ, bất đắc chí, âu cũng là việc thường của những hiền sĩ. Huynh đệ chúng ta mười năm mài kiếm, lưỡi gươm bén chưa từng thử lần nào, nay thời vận đã đến, hé mở một tương lai được tài làm khanh tướng, Trừ việc xoay chuyển trời đất ra, còn có việc làm mà không thể làm nổi? tề gia, trị quốc, bình thiên ha, tất cả nhwungx việc đó thì khỏi phải bàn”
Trương tiểu Biện liến thoắng một hồi, rồi bỏa là cần phải nghỉ ngơi dưỡng sức. Đoạn hắn ngả đầu đánh một giấc cho tới khi chập tối, lấy lại đầy đủ tinh thần cà sức lực, ăn chút lương khô lót dạ rồi nhổm dậy, mặc ý phục dạ hành Hắc Thiền của Miêu tiên gia vào người, đeo cái mặt nạ mèo lên đầu. Hắn bảo Tôn Đại Ma Tử cũng mau chóng thu dọn đồ nghề, mang theo các vật cần thiết như: dây thừng, gậy gộc, đèn đuốc…

Khi ấy trời đã tối đen như mực, bầy mèo hoang trong Miêu Tiền từ đã tụ tập càng lúc càng đông, con Nguyệt ảnh ô đồng kim tuyến miêu àm Trương Đại Ma Tử thường mang theo cũng lẫn lộn trong đám đó. Mèo khoang Linh Châu coi con Kim Ngọc Nô là thủ lĩnh, trừ những con mòe nhà tản mác trên các phố cá ngõ ra, còn lại hầu như đều tập trung hết ở đây. Chỉ thấy bầy mèo có con béo, con gầy, con cao, con thấp, dữ có, lành có, đẹp có, xấu có, con tham lam, con lười nhác, mèo đực, mèo cái, lớn bé đầy đủ, kiểu nào cũng có, nhất thời quan sát không hết.
Trương Tiểu Biện thuộc lòng “Miêu phổ”, thoạt nhìn đã biết bầy mèo hoang trong miếu phần lớn là loại mèo danh tiếng sản sinh ở Linh Châu, toàn là những con Trường Diện La Hán, Thiên Văn Tiền, Quả Kiều Kim, Bạc Nhĩ Tướng Quân, Tuyệt Kê Chủng, Viên Vĩ Hổ, Tảo Thượng Lãn, Thụy Thần Lô, Dạ Minh Đăng, Mao Chiên Tử… Tuy mỗi loại đều có hình dáng và tập tính riêng nhưng đều thuộc vào hàng mèo khoang cực quí.
Trương Tiểu Biện vái bầy mèo một cái rồi nói: “Tiểu nhân là Trương Tam, xưa nay rất sung bái Miêu tiên gia, hoom nay xin làm phiền các vị mèo ông mèo bà hãy bày trận mèo để giúp sức một phen. Sự tình rất quan trọng, rất mong các vị tri viện, giúp đỡ” Nói đoạn, hắn mọc trng bọc ra viên Hồ ky, xòe trên tay, giơ ra trước mặt con Kim Ngọc Nô cho nó nhìn. Ngọc Hồ ly thuộc dương, mắt mèo thuộc âm, đúng theo cái lý âm dương hút nhau. Bầy mèo khó tránh được sự tò mò trước vật này, liền nhao nhao bao vây xung quanh nhìn chằm chặp.
Trương Tiểu Biện thấy cơ hội đã đến, liền đưa mắt nháy Tôn Đại Ma Tử, trong tay cầm chắc viên ngọc nhảy qua vòng vây, rảo bước chạy về phía cổng thành. Bầy mèo hoang ngẩn ra một cái nhưng cũng đều muốn xem xem viên ngọc rốt cuộc là vật gì, liền chạy theo đuôi con Kim Ngọc Nô cầm đầu. Cả đoàn rồng rắn lên mây dài cả một con phố. Dưới ánh trăng trong lạnh lẽo, hàng trăm con mèo hoang cứ thế chầm chậm, chạy về phía giếng cổ của chùa Tháp Vương.
Thật đúng là: “Mới vào trong núi bắt thần khuyển; Lại xuống giếng sâu đánh chép vàng”

Muốn biết sự thể thế nào, xem hồi sau phân giải.
Hồi thứ 4: Phong Vũ Chung
“Trải bao thỏ lặn ác tà, khi xưa bể biếc nay là ruộng dâu.”

Phàm là kẻ có bản lĩnh thì việc thăng tiến không ngoài ba con đường. Một là học được tài văn võ, bán thân cho đế vương, ra sức vì triều đình, mưu đồ một phen vinh thân phì gia, quan cao lộc hậu; hai là dựa vào nghề nghiệp của bản thân để nuôi sống gia đình, tuy rằng vất vả cực nhọc nhưng có thể sống yên ổn cả đời; ba là đi vào nơi rừng xanh núi đỏ, chỉ có thể làm những hành vi vô pháp vô thiên, lớn thì lấy vàng, bé thì cướp bạc, không lương thì cùng đói, có thịt thì cùng ăn, thế gọi là “chia vai tụ nghĩa”.

Nhưng không hiểu sao, nhiều người có tài nghệ cao cường, cả đời cố gắng phấn đấu mà rốt lại thì áo chẳng đủ che thân, cơm không đủ ấm bụng, phải sa vào cái cảnh không bằng được đám ngu dốt, bất tài? Tất cả cũng vì con người ta có cơ duyên, vận mệnh rất khác nhau mà thôi. Cái gọi là

“tài cao phận mỏng, tài hèn số hên”

tức là việc giàu sang hay nghèo hèn của mỗi con người, xưa này chỉ bàn đến số mệnh chứ không bàn đến tài năng. Dẫu cho anh có tài cao chí cả đến thế nào chăng nữa, nếu số mệnh của anh không cần đến nó thì rốt cuộc tài nghệ đó cũng không có đất thi triển.
Trương Tiểu Biện học thuật “Xem mèo” của Lâm Trung Lão Quỷ, vốn cho rằng chẳng qua chỉ là những tạp kỹ linh tinh như giả tiếng gà, ăn trộm chó mà thôi. Bọn mèo nhà, mèo hoang trong thành Linh Châu, con nào con nấy phàm ăn, lười nhác, đã không biết xây nhà lại không biết nấu cơm, lúc Tam gia ta chịu đói rét thì có thể hy vọng chúng giúp đỡ được trò trống gì? Nào ngờ đâu khi thời vận đã đến, cái “vô” cũng có thể biến ra cái “hữu”, tự nhiên gặp được cơ duyên trời cho, rốt cuộc hắn cũng phải dựa vào sự tương trợ của bầy mèo hoang Linh Châu để làm nên nhiều đại sự kinh thiên động địa. Đúng thực là:“Bảo mèo không có đạo? Đạo mèo thực có dòng. Có nhiều điều kỳ lạ. Xưa nay khó hình dung.”
Lại nói đêm ấy, trăng sáng vằng vặc trên trời, chiếu lung linh vạn dặm, trên dưới một màu bàng bạc, Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử dẫn đàn mèo hoang, băng ngõ vượt phố đến thẳng di chỉ của chùa Tháp Vương. Lúc ấy, trong thành đã sớm ban lệnh giới nghiêm, nhà nào nhà nấy đống chặt cửa ngõ, đường phố lạnh không một bóng người, chỉ thi thoảng mới có mấy tốp lính dõng Linh Châu cắp đao thương đi tuần phòng, giới bị.
Trong đống đổ nát của nhà dân, mặt đất nứt ra một khe sâu, bên trong hơi mù dày đặc, từ ngoài nhìn vào không thể biết nông sâu ra sao, bốn phía đã có một toán lính dõng canh chừng, tất cả đều cầm đèn lồng, giơ đuốc sáng. Trương Tiểu Biện lấy của họ hai ngọn đèn lồng rồi cùng với Tôn Đại Ma Tử, mỗi người cầm một ngọn trong tay, dẫn đàn mèo hoang chui thẳng vào đám khói mây mù mịt.
Chỗ này mấy trăm năm trước từng là nền móng phía dưới của tòa tháp cao, lòng đất vẫn còn thấy được nhiều gạch đá, đất nện, nơi sâu nhất có ẩn một miệng giếng sâu. Do nền tháp đã bị toác ra nên không cần phải ròng dây mới xuống được dưới giếng, hai người mò mẫm trong đống gạch ngói đổ nát để đi xuống phía dưới, thấy khí âm lạnh lẽo ẩm ướt càng lúc càng dày, trên tường giếng chỗ nào cũng nghi ngút hơi nước.
Giếng cổ trong chùa Tháp Vương miệng bé nhưng lòng rộng, đáy giếng là một cái động đá thiên nhiên, đối diện với lòng giếng là một đầm nước sâu khôn lường. Nguyên là các khe vực trong thiên hạ được chia thành “ba mươi sáu mạch, bảy mươi hai mắt”, đều nói về các đầm, giếng, khe, suối cực sâu cực thâm u. Giếng cổ này chính là một trong số đó, phía Tây giáp với hồ Động Đình tám trăm dặm, phía Đông liền với biển lớn mênh mông.
Từ hồi xưa, chừng vào đời Đường, trong phạm vi mấy trăm dặm của thành Linh Châu thường có tai họa xuất hiện, không phải là hạn khô đồng ruộng, thì cũng là lũ lụt tràn ngập, mười năm thì đến chin năm có thiên tai khiến cho thóc lúa đắt đỏ, người dân hết đường sống. Triều đình cho rằng, chắc chắn trong giếng cổ nghìn năm của thành Linh Châu có một con rồng già tác yêu tác quái, vì vậy mới mời một vị cao tăng tới trấn yểm, đồng thời hạ chỉ xâu một ngôi chùa lên trên. Vì vậy, người ta mới xây một tòa tháp cao, sơn son thếp vàng lên trên miệng giếng, lại cho hương khói thờ một cái “Phong Vũ chung” để cầu cho mưa thuận gió hòa.

Cái chuông này có thể biết trước gió mưa, mù tạnh, là báu vật trấn chùa trong chùa Tháp Vương. Tương truyền, khi Đại Vũ trị thủy, đã được nhiều quỷ thần trợ giúp. Có lần đang khơi thông đường sông trong núi sâu, gặp phải một trận mây mù kín trời, giữa ban ngày mà xòe bàn tay không thấy ngón, bỗng may thay, có một con lợn rừng to mồm ngậm viên mình châu chạy lại dẫn đường, đồng thời, miệng không ngừng hút mây mù đang nghi ngút xung quanh, Vũ vương nhờ thế mới dẫn đầu mọi người khơi thông được dòng nước trong mây mù. Kỳ thực ra, viên mình châu đó chính là một viên Huỳnh Quang Khoáng Thạch hiếm có, có thể nuốt được mây mưa. Phong Vũ chung có khảm vật này vào, nên vào ngày thường phía trên chùa Tháp Vương vẫn xuất hiện các cảnh tượng mây núi kỳ lạ.
Có câu rằng:

“Cảnh đẹp thì khó được lâu; Lưu ly dễ vỡ, mây mầu chóng tan.”

Về sau này, mỗi lần thay đổi triều đại, đao binh dấy lên khắp nơi, thành Linh Châu cũng không tránh được sự tàn phá của ngọn lửa chiến tranh. Các cao tăng trong chùa Tháp Vương sợ Phong Vũ chung bị hủy trong loạn lạc mới ngầm giấu trong giếng cổ dưới chân Tháp Vương, lại sợ có kẻ tới trộm bảo vật liền xích cái chuông đồng đó vào hai con “Đà ngư”.
Đà ngư không phải là động vật ở Trung Thổ mà vốn là một loài lưỡng thê lạ do một vị tăng nhân người Ấn Độ mang từ nước Bà La Cam Tư đến. Loài này tuổi thọ còn hơn cả rùa, chúng có hình dáng giống như một con cá chép vảy vàng, trên lưng có mai cứng như giáp, ở dưới nước thì mạnh mẽ vô cùng. Nếu có kẻ nào tơ tưởng đến việc lấy trộm Phong Vũ chung thì một là bị bọn Đà ngư giết chết ăn thịt dưới nước, hai là làm chúng sợ, kéo cái chuông đồng lặn sâu xuống đáy nước thì mấy chục năm đến cả trăm năm cũng không xuất hiện nữa.
Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử mò đến cạnh đầm nước, giơ đèn lồng rọi ra bốn phía, chỉ thấy làn nước phẳng lặng như gương cũng không rộng lắm nhưng lớn hơn miệng giếng thường rất nhiều, ước khoảng bằng bốn cái bàn Bát tiên ghép lại. Trên mặt nước có từng đợt mù trắng nghi ngút bốc lên, càng lên cao thì càng tỏa rộng, xung quanh đầm nước và đáy giếng thì lại không có chút khói mù nào. Trên vách giếng và trong động có vô số pho tượng Phật bằng đá, to nhỏ khác nhau, pháp tướng thiên biến vạn hóa, tư thế rất trang nghiêm.
Đàn mèo do con Kim Ngọc Nô dẫn đầu cũng nối gót nhau kéo đến. Cả ngày, chúng đều lang thang khắp thành Linh Châu, từ hang cùng ngõ hẻm đến phủ to nhà lớn, “giữa cột đồi mồi, trên lầu uyên ương, bên trong gác son, đằng sau rèm lụa, trong thành, ngoài thành”,

chẳng chỗ nào mà chúng không quen thuộc, nhưng xưa nay chưa bao giờ từng xuống đến giếng cổ này cả. Thấy cảnh đá nước lạ lẫm trong hang động dưới đáy giếng, chúng đều rất tò mo, tụ tập lại một chỗ giương to hai mắt, nhìn ngó bốn phía.
Trương Tiểu Biện chỉ vào chỗ có mù trắng bốc lên rồi nói với Tôn Đại Ma Tử: “Chỗ nước đó chính là nơi giấu Phong Vũ chung, nếu có cách lấy được vật này thì lo gì chẳng đổi được chức quan cao lộc hậu, có Hoa linh cài mũ… “

Tôn Đại Ma Tử kinh ngạc, nói: “Ta hỏi này Trương Tam, chuyện bí mật thế này đệ nghe được từ đâu mà lại nắm tường tận như thế? Hơn nữa, Phong Vũ chung là bảo vật tối quan trọng của Linh Châu, xưa nay nắm giữ việc điều hòa mưa gió trong vòng trăm dặm, chúng ta sao dám mạo muội làm kinh động đến nó? Chẳng lẽ ngươi lại gặp phải lão quỷ trong mộ Kim quan rồi ư? Chớ quên rằng chúng ta đã bị rước họa vào thân ở Hòe viên lần trước,cứ thế mà suy, chớ tin vào lời yêu ngôn của lão ta. Đối với chúng ta, lão vị tất đã có bụng tử tế gì.”
Trương Tiểu Biện thuận miệng lấp liếm: “Mộ Kim quan là một ngôi mộ hoang, lấy đâu ra lão quỷ nào? Tam gia ta được truyền dạy thuật xem mèo và tìm của, chẳng qua cao nhân không lộ tướng, mà lộ tướng thì chẳng phải cao nhân đấy thôi. Chính vì vậy, từ xưa đến nay chưa bao giờ thi triển ngón nghề trong làng Kim quan. Tới giờ, Phong Vũ chung dưới đáy giếng ngưng tụ mây mù, hiển hiện ra hình dạng tòa tháp, khiến cho lòng quân dân toàn thành không yên, huynh đệ chúng ta sao có thể khoanh tay đứng nhìn được?” Lại nói tiếp rằng, cái Phong Vũ chung chôn giấu trong giếng cổ chẳng qua chỉ là một cổ vật có khả năng kết tụ mây mù, sao có thể quản được việc điều hòa mưa gió? Linh Châu của chúng ra từ xưa mèo nhiều cúng bái cũng nhiều, những thứ như: chùa Tháp Vương, Kim Quan thôn, Long vương miếu, Miêu Tiên từ… nhiều không đếm xuể, người dân cúng hết thần tiên, phật thánh của chín mươi chín tầng trời, nhưng hễ năm nào gặp phải thiên tai thì hạn hán vẫn hoàn hạn hán,lụt lội vẫn hoàn lụt lội, Phong Vũ chung nào đã phát huy được tác dụng gì? Nếu không phải năm đó, Miêu Tiên Đàm đạo nhân diệt trừ được con “hỏa trùng” thì thành Linh Châu sao có được cảnh phồn hoa như ngày hôm nay? Chính vì vậy mà mới nói, mọi sự vật trong gầm trời này xưa nay đều là

“bởi đâu đất hiểm cốt mình đức cao”mà thôi, nếu người đời chẳng làm những việc có đức thì dẫu cho có bảo vật cũng không linh nghiệm.

Tôn Đại Ma Tử là người thẳng đuột ruột ngựa, nghe xong thì ngẩn ra mãi mới nói: “Việc này”, rồi lại nghĩ ngợi một lát, rốt cuộc cũng lờ mờ hiểu ra liền gật đầu nói: “Ờ… quả là có lý, mỗ chỉ là một thất phu lỗ mãng, không chịu đất, không chịu trời, nhưng nói về mặt không ngoan, cơ trí thì còn kém Tam đệ một bậc. Theo Tam đệ, chuyện này nên xử lý thế nào?”

Trương Tiểu Biện nói: “Đầm nước dưới đáy giếng sâu tới mức thông ra đến biển, bên trong lại có cá già thành tinh, nếu cứ mạo hiểm xông xuống, chỉ e bị con thủy quái lôi đến tận Long cung bắt làm con rể Long vương mà thôi. Nghe đồn, Long nữ không phải là một cô nương hoa nhường nguyệt thẹn gì đâu, mà cô nào cô nấy xấu như ma lem. Nếu đúng là như thế thì Tam gia ta chẳng thèm. May mà chúng ta đã dụ con Kim Ngọc Nô đến dưới giếng cổ chùa Tháp Vương này, huynh đệ chúng ta chỉ cần nấp một bên đợi, làm kế ngao cò tranh đấu, ngư ông đắc lợi là được. Hãy xem đàn mèo hoang giở trò gì.”

Tôn Đại Ma Tử không hiểu nổi, mấy con mèo hoang thì làm được trò trống gì. Gã bán tín bán nghi, đành phải nhẫn nhịn cùng Trương Tiểu Biện trèo vào trong một cái bệ Phật trên vách giếng, giơ hai ngọn đèn lồng soi sáng một vùng đầm nước lạnh lẽo yên ắng, thật đúng là:

“Rãi xong lớp thính thơm phưng phức, chờ đợi con mồi đến đớp câu.”
Lại nói về mèo hoang Linh Châu thích nhất là cá tanh, từ xưa đã có thói quen đứng cạnh mép nước để xem cá. Hơn nữa, mấy năm gần đây, vùng này thiên tai dịch họa liên miên, chẳng mấy người đến Miêu Tiên từ để cúng dường cá tươi, đến cá ươn tôm vụn bọn mèo cũng còn khó thấy. Lúc ấy, thấy dưới đáy giếng có cá bơi, bọn chúng đều muốn mon men đến sát lại để nhìn cho bõ thèm.
Nào ngờ, khi bọn mèo hoang vừa đến sát mép đầm thì bọt nước đột nhiên tung lên, từ bên trong lao vọt ra một cái đầu cá to. Hình dạng con cá rất kỳ lạ, vẩy bạc sáng lòa, con mắt như một cái bát lớn khiến lũ mèo hoang cả kinh thất sắc, vội vã tản ra tứ phía ẩn nấp. Trong đó, có một con “Táo Thượng Lãn” là đần độn nhất, tuy may không bị kéo xuống nước nhưng vì nấp chậm nửa bước, nên bị con quái ngư hất một cái bắn tung ra ngoài, rơi xuống đống tượng Phật. Con mèo lười bị gãy một chân, kêu gào thảm thiết.
Con Đà ngư ngày thường ăn cá, ếch, rùa, rắn trong đầm, rất giỏi lôi chó hoang, mèo hoang xuống nước ăn thịt, lúc ấy tấn công không trúng, cũng là việc nằm ngoài định liệu, nó liền ẩn xuống đáy nước nằm phục, không động đậy.
Bầy mèo hoang Linh Châu nếm mùi lợi hại, không dám mon men đến gần mép nước nữa, chỉ có con Kim Ngọc Nô toàn thân vằn vện dẫn mèo hoang lớn nhỏ đến xem xét tình hình của cái chân gãy của con Táo Thượng Lãn kia, tỏ vẻ thương xót. Bọn mèo thấy đồng bọn bị thương thì đều tức giận, không chịu bỏ qua chuyện này.
Bầy mèo hoang gừ gào to nhỏ tựa như đang bàn luận một hồi, con mèo Táo Thượng Lãn liền lê cái chân khoèo, cà nhắc từng bước đi về một phía vách giếng rồi dán chặt người vào đó, cũng không biết nó dùng cách nào, chỉ thấy nó dựa vào đá nhảy nhảy mấy cái, tuy đau tới mức kêu ngao ngao ầm lên nhưng rốt cuộc cũng nối được chỗ xương gãy.
Đám mèo hoang còn lại thấy xương chân của con Táo Thượng Lãn không còn đáng ngại, liền chia nhau chạy ra ngoài giếng, trong chớp mắt bỏ đi sạch sẽ. Trương Tiểu Biện cũng không rõ bọn chúng rốt cuộc đang định làm gì, đành phải cùng Tôn Đại Ma Tử chờ trong lòng giếng mất hơn một canh giờ. Đang nghĩ bụng bọn mèo hoang chắc đã một đi không trở lại, bỗng thấy đàn mèo mang về một con mèo già to béo dị thường. Con mèo già đó béo kinh khủng, e nặng đến mấy chục cân, khắp mình lông lá bờm xờm, che kín cả tai, mũi và hai mắt, lại bẩn thỉu lem luốc, hễ đụng nhẹ một cái là chấy rận rơi lộp bộp, điệu bộ cũng hết sức chậm chạp.
Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử ngầm ngạc nhiên, chẳng hiểu bầy mèo hoang mời đâu ra vị “quan gia” này, tuy nhiên, Trương Tiểu Biện có thuật xem tướng mèo, hiểu rằng, chớ tưởng lầm nó chỉ là một con mèo già bẩn thỉu bờm xờm. Râu và lông của nó đều dài, lông có hai màu vằn trắng, râu chia thành hai màu vàng đen, đầu thì tròn, vuốt thì ngắn, thân hình béo mập như một cái hồ lô, xuống nước không chìm. Đó chính là một loại mèo cổ từ thời Tùy, Đường, người đời gọi là ” Độ thủy hồ lô miêu”, là một loại mèo không tầm thường, có xuất xứ kỳ lạ vô đối, nếu mà nói ra thì đúng là:

“Tự cổ chí kim chưa chắc có; Tạo trời mở đất một mà thôi.”

Muốn biết sự thể ra sao, hạ hồi phân giải.
Hồi thứ 5: Độ thủy hồ lô miêu
Thường có câu rất hay rằng: “Năm ngón tay trên một bàn tay cso ngón ngắn ngón dài” Câu đó để hình dung về con người trong khắp thiên hạ, tuy đều có một đầu đặt trên hai vai nhưng nếu đem so sánh với nhau thì xấu đẹp, thiện ác, cao thấy, gầy béo, văn tài võ nghệ, khác nhau nhiều lắm, không thể đánh đồng tất cả được.
Người thế nào thì mèo thế ấy, giả dụ như con mèo giỏi bắt chuột cũng giống như người biết ha miệng ăn cơm, đều là những tập tính bẩm sinh, không có gì lạ lắm. Mèo nhà, mèo hoang trong thiên hạ, ngoài việc biết bắt chuojt trèo cây ra tùy vào phẩm cấp, chủng loại khác nhau sẽ có các năng lực muôn màu muôn vẻ, làm sao có thể nhất nhất đánh đồng được?
Chính vì vậy có loại mèo giỏi bắt chuột giữ nhà, có loại mèo chuyên môn ăn vụng bắt sẻ, ngoài ra chúng còn có rất nhiều năng lực kì lạ, ít nghe thấy khác, không thể kể hết trong sách được. Trong hồi này nói riêng về những năm giữa đời Tùy và đời Đường. Đường Vương là Lý Thế Dân dẫ quân đánh đông dẹp bắc, một hôm một mình một ngựa đi do thám trại giặc, kết quả là lộ hành tung bị đại đội quân giặc truy sát, bỏ chạy đến bờ Hoàng Hà. Chạy vào đường cùng, sắp sửa bị bắt sống, nhưng ông ta là Chân long Thiên tử, có được thần linh phù trợ, trong lúc nguy cấp ngàn cân treo sợi tóc ấy, nống thấy trên sông Hoàng Hà có một con mèo khoang giống như cái hồ lô, dập dềnh trên sông, theo dòng nước từ thượng nguồn trôi xuống.
Lý Thế Dân vội vã nhảy xuống nước, hai tay nắm chặt vào đuôi con mèo, quẫy đạp để sang bờ bên kia, thoát khỏi sự truy kích cảu quân địch. Chuyện này về sau, ngay cả ông ta cũng cảm thấy kì quái, trên đời sao lại có con mèo biết bơi, liền đem ra hỏi đám bộ hạ. Có một người tên là Từ Mậu Công, là kỳ nhân hiểu rộng biết nhiều, trước tiên nói chúa công: “là người có hồng phúc, tự nhiên trời sẽ phù hộ”, sau đó mới nói về loài: “Độ thủy hồ lô miêu”
Loại Hồ lô miêu này tuy bảo là mèo nhưng kỳ thực không phải mèo. Vóc dáng của chúng to lớn hơn mèo thường nhiều, đáng ra nên xếp riêng ra 1 loại ” Ly miêu” ở trong núi sâu. Người chúng có dáng tròn, lông dài, đuôi dài, tính khí khác thường, có thể bơi lặn qua sông lớn, bắt cá tôm dưới nước để ăn, có thể bảy ngày bảy đêm không ngoi lên bờ.
Bọn mèo hoang trong thành Linh Châu gặp phải vận đèn trong miếu cổ của chùa Tháp Vương, nếu ngày thường thì chúng cũng gập đắng nuốt cay cho qua vì không biết bơi, bắt cá. Tuy nhiên, con Kim lân Đà ngư trong đầm sâu lại là mọt loài trăn quý của nước Bà La Cam Tư, nếu có thể ăn thịt nó có thể kéo dài tuổi thọ. Bầy mèo hoang ngửi thấy mùi tanh đời nào chịu thôi, liền quyết định phải ăn bằng được hai con Đà ngư dưới đáy giếng này.
Bầy mèo hoang thấy con Đà ngư dưới nước rất lợi hại, chắc hẳn khó lòng đối phó. Con Kim Ngọc Nô đầu đàn hết sức khôn ngoan lắm mẹo, cũng không rõ chúng đã bàn bạc tính toán thế nào, rốt cuộc tìm một con Độ thủy lô miêu về giúp đỡ.
Chỉ thấy con Hồ lô miêu nọ lê tấm thân lờ đờ chậm chạp, lắc la lắc lư đi đến bên bờ đầm nước. Nó không trực tiếp bơi xuống mà tìm một chỗ hết sức tối và ẩm, dùng móng vuốt bới gạch đá trên mặt đất đi. Dưới đáy giếng ẩm thấp lâu năm có rất nhiều loại côn trùng độc như nhện, rết,… béo múp, đèn đỏ lốm đốm, độc đại vô cùng, thấy bị mất nơi ẩn nấp, chúng liền nhao nhao chạy ra, tranh nhau cắn chích con Độ thủy hồ lô miêu to mập.

Con Hồ lô miêu thịt thô da dày, chịu được chất kịch độc. Bị bọn rết và bọ cạp cắn chúng, toàn thân nó từ đầu đến đuôi đều sưng phồng lên, nhưng những con trùng kia phun hết nọc độc cũng lăn đùng ra, giãy giụa rồi chết ở xung quanh. Trương Tiểu Biện và Tôn ĐẠi Ma Tử ở bên cạnh xem mà cả người nổi da gà,
Con hồ lô miêu bẩn thỉu thu hết nọc độc, thấy cũng đủ rồi liền phì phò bò đến bờ đầm, nhúng cái đuôi mèo dài thượt xuống nước. Toàn bộ uy lực của loài mèo nằm ở đuôi, vượt tường trèo cây đều do cái đuôi quạt gió giữ thăng bằng. Có nhiều nàh giàu chỉ nuôi mèo làm cảnh, chẳng cần chúng bắt chuột, để đề phòng chúng chạy chơi khắp nơi, liền cố ý cắt phứt cái đuôi mèo đi, con mèo lập tức biến thành một con vật ngoan ngoãn dễ bảo, chẳng làm nên trò trống gì được nữa.
Đuôi của con Độ thủy hồ lô miêu chia làm chín đốt. Xét theo miêu phổ thì lông đuôi mèo quý ở chỗ dài, đốt đuôi thì quý ở chỗ ngắn, lại nói thêm, cái đuôi mèo càng dài và tấn suất vẫy đuôi càng cao thì con mèo đó càng nhanh nhẹn, có thể bắt chuột không biết mệt mỏi. Nhưng cái đuôi của con Hồ lô miêu này thì vừa thô vừa tròn, là đuôi của con mèo vừa lười nhác vừa ham ngủ, lúc xuống dưới nước thì nổi phập phềnh như một cái thuyền.
Hai con Kim Lân Đà ngư canh giữ Phong Vũ chung đều đã có chút đạo hạn, những lưới cá, câu thính thông thường đều không qua được mắt chúng. Bỗng trông thấy cái đuôi mèo trên mặt nước, chúng không rõ ruốt cuộc là vật gì, dường như hơi giống với rắn nước nhưng lại chậm chạp hơn một chút, nếu bảo là cỏ nước thì sao lại có mùi tanh kì lạ như thế?
Cặp Đà ngư tuy rất nghi ngờ những không kìm được sự thèm thuồng liền rẽ nước bới đến gần, há miệng đớp đuôi con Độ thủy hồ lô miêu. Con Hò lô miêu vừa bị trùng chích đốt tơi bời nên da thịt toàn thân đều có chất độc. Trên mình Đà ngư cũng có bảy túi độc, khi trúng độc thì theo phản ứng tự nhiên cũng dồn nọc độc ra để chứ ngự trở lại. Hai con Đà ngư đớp chặt cái đuôi mèo không chịu buông, chẳng bao lâu sau đã nhả hết chất độc trong người. Đà ngư ăn tươi nuốt sống nhện nước, rắn nước kịch độc, tính khí toàn thân đều nằm cả ở đó, bây giờ nhả hết nọc độc ra, lập tức mình mẩy mềm nhũn, thoát lực, quẫy độc không nổi nữa.
Con Hồ lô miêu nhân cơ hội, vẫn sức kéo đuôi, lôi hai con đà ngư lên trên bờ. Những con mèo hoang khác, mắt vằn đỏ, gào lên rồi lại nhao lại bao quanh bốn phía. Hai con Đà ngư biết mình đã rơi vào vòng nguy hiểm, vội dùng hết sức lực cuối cùng, quẫy đầu vẫy đuôi định trốn xuống nước, nhưng sợi xích trên chúng đã bị thân hình con Hồ lô miêu to béo đè chặt xuống, đúng là” lợn béo đã vào nhà đồ tể; chui nhầm tử lộ trốn sao đang”, đành mặc cho đám mèo hoang lóc sạch từng mảnh vây cá, để lộ ra mỡ thịt khắp mình dầm dề máu đỏ.
Bọn mèo hoang Linh Châu như gió cuốn mây tan, ăn thịt hai con Kim Lân Đà ngư một trận sung sướng, quả nhiên mùi thịt tươi rất ngon. Bầy mèo hoang con nào con nấy rất thỏa mãn, hài lòng, sớm đã quên phắt viên ngọc kỳ quái. Đoạn chúng kêu meo meo mấy tiếng, lặc lè tiền hô hậu ủng, đưa con Kim Ngọc Nô và con Đọ thủy hồ lô miêu ra ngoài.
Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma tử vọt ra khỏi chỗ nấp sau tượng Phật đá, tìm dây xích từ trong đám xương vụn của hai con cá chết, cùng hợp sức kéo chầm chậm đưa Phong Vũ chung lên bờ. Cái chuông đồng dài xấp xỉ một thước, toàn thân màu xanh lục, chỗ gỉ loang lổ màu đỏ của chu sa, thủy ngân, trên thân chuông đúc nhiều hoa văn hình dị thú, cá rồng, song nước, từ bên trong nhà ra từng đường khói mù mong mỏng giống như mây lành bao bọc.

Trương Tiểu Biện dùng đốt ngón tay gõ thử, thấy tiếng vang trong trẻo, hơi lạnh, biết đúng là một bảo vật, trong lòng rất mừng rỡ, cười ha hả, nói với Tôn Đại Ma Tử: “Quả nhiên là trọng bảo của Linh Châu khiến người ta phải lóa mắt. Lần này đều do Miêu tiên gia phù hộ cho ta mới gặp được cơ duyên này, hay là gói ghém Phong Vũ chung rồi rời khỏi thành bỏ chạy, nửa quãng đời còn lại sẽ khỏi pải lo cơm ăn áo mặc?”
Tôn Đại Ma tử bội vã khuyên rằng: “Tam đệ chớ nảy sinh tà niệm, vật báu này đâu phải là vật để người tầm thường cất giữ? Chi bằng mau dâng nộp quan phủ thì cũng alf công lao của huynh đệ ngươi rồi”
Phàm là việc xử thế của con người đều không được có tư tâm, nếu tư tâm đã nổi lên thì sẽ làm những việc bất chấp hậu quả về sau, may àm đang lúc thiên hạ hỗn loạn, thuế má nặng nề, chẳng ai cịu bỏ tiền ra mua cái chuông cổ đó, chính vì vậy, Trương Tiểu Biện mới bỏ qua cái ý định đen tối này. Hắn lại nghĩ, cần học hỏi cho thật thuần thục việc xem tướng mèo thì việc thu thập báu vật lạ trong thiên hạ dễ như lấy đồ vật trong túi. Trương thiếu gia có khí độ của tể tướng, tầm nhìn hà tất chịu bó ngọn trong cái pHong Vũ chung này.
Lúc chiếc chuông đồng rời khỏi mặt nước thì đám mù trắng phun ra từ miệng giếng dần dần tan biến rồi tích tụ toàn bộ trên không trung, biến thành một đám mây đén. Toàn thành lập tức mù mịt, sấm nổ ầm ầm không dứt nhưng có hạt mưa nào, chỉ che khuất trăng sao àm thôi. Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma tử cho gọi toán lính dõng Linh Châu ở phía trên xuống nghe lệnh, sai chúng gói Phong vũ chung lại, rồi trực tiếp mang về giao cho Tuần phủ Mã đại nhân xử trí.
Đám lính dõng đều là người quê Linh Châu mấy ngày nay chính mắt thấy Trương Tiểu Biện liên tiếp lập chiến công. Trương Tiểu Biện lại chuyên nghề khoe khoang, nói tráng giang đại hải một hồi, chuyện bé bằng hạt vừng qua lời hắn cũng trở thành chuyện kinh thiên đồng địa, nghiêng sông dốc biển, thêm vào đó là miệng lưới trơn tuột, lời tuôn như suối, những việc vụn vặt không tên bỗng trở nên hoành tráng, rõ mồm một. tất cả đám lính dõng và công sai đều phục hắn sát đất, cũng khen ngợi Trương Bài đầu quả là có tài nghệ cao cường, kỳ tài đại lược đó ắt sẽ được trọng dụng, sau này nhất định sẽ được triều đình đề bạt, khen thưởng, đến lúc ấy xin chớ quên chiếu cố đến tụi huynh đệ này.
Vừa đi vừa nói đã đến trước cổng của phủ Mã đại nhân. Tuy đương lúc nửa đêm, nhưng Việt khấu đang vây thành rất gấp, toàn thành đang phòng bị nghiêm ngặt, mã đại nân trong lòng cũng rất lo âu, nửa đêm không thể ngủ yên, vừa được tin báo đã lập tức dặn đưa Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử đến hậu đường gặp mặt.
Cô ả tiểu Phượng làm Mã phủ rốt cuộc cũng có được mấy ngày yên ổn, thấy Trương Tiểu Biện và tôn Đại Ma Tử đều được làm chức bà đầu Bổ khoái trong nhâ môn Linh Châu, liền mừng thay cho ca rhai. Nhưng cô ả thấy Mã đại nhân đang vội vã hỏi han nên không thể đi tới trò chuyện được, đành phải khép nép đứng hầu một bên.
Mã Thiên tích xem qua cái Phong Vũ chung, rồi liếc mắt nhìn Trương Tiểu Biện, thật chẳng ngờ người này lại có thể làm việc đắc lực đến thế, chuyện khó tày trời mà xem như không, vì vậy, lão cũng không giấu giếm nữa, đèm sự tình kể cho Trương Tiểu Biện avf Tôn Đại Ma Tử rằng: “Đối với bản quan thì Phong Vũ chung này vô dụng, nhưng quan Đề đốc trấn thủ Linh Châu Phú Sát Đồ Hải thì đang rất mong có được nó. Người này xuất thân từ Thượng Tam Kì, phe cánh gia tộc giải rác khắp triều đình, đáng gọi là người có nền tảng có thế lực. Ông ta đi nhậm chức ở đây, mang theo toàn bộ gia quyến vào ở trong thành. Lão Đồ hải có một co con gái, cưng triều như ngọc quý trên tay, vì vậy mới co tên là Phú Sát Minh CHâu, hiện nay tuổi mới mười sáu, xinh như hoa như ngọc, đẹp nổi tiếng một vùng. Đáng tiếc là từ khi tới Linh Châu, nó sinh ra chứng bệnh lạ, thầy thuốc khắp nơi không chữa được. Nghe nói có một danh y đã kê một bí phương, cần có được Phong Vũ chung hứng nước mưa, sau đó đun sôi rồi mang ra tắm mới có thể thuyên giảm. Đương vất vả tìm khắp nơi, may mà hôm nay các ngươi đã mò được vật này dưới đáy giếng cổ chùa Tháp Vương lên, lão Đồ hải biết được chắc chắn sẽ trọng thưởng hậu tạ, đến lúc đó bản quan sẽ nhân cơ hội đề cử các ngươi”

Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử vội vã bái tạ, chỉ có điều Trương Tiểu Biện trong đầu lại có toan tính khác. Trong Miêu Tiên từ, Lâm trung Lão Quỷ đã mách cho hắn mấy việc lớn, nếu đều thực hiện thành công thì tự nhiên sẽ được thăng quan tiến chức. Mây việc đó, một là đến Hoang táng Lĩnh giết con Thần Ngao, hai là dẫn bầy mèo vào giếng cổ chùa Tháp Vương mò Phong Vũ chung lên. Những sự việc đó, cứ liên tiếp diễn ra, chúng đều có mối liên hệ với nhau. Con việc thứ ba chính là phải bắt được giáo chủ Bạch Tháp chân nhân của tà giáo Tạo Súc.
Vì vậy, Trương Tiểu Biện bẩm báo Mã đại nhân, căn bệnh lạ của Phú Sát Minh Châu tiểu thư không phải dùng thuốc mà chữa được, nó có căn nguyên từ yêu nghiệt đang ẩn nấp trong Đề đốc phủ, nếu không sớm diệt trừ tận gốc, chỉ e gây hậu họa khôn cùng.
Đúng thật là: “Hai tay xé toạc lưới kim tuyến; lôi hẳn ra ngoài chuyện thị phi” muốn rõ sự thể thế nào, hãy xem hồi sau sẽ rõ.
Hồi thứ 6: Độ thủy hồ lô miêu
Thường có câu rất hay rằng: “Năm ngón tay trên một bàn tay cso ngón ngắn ngón dài” Câu đó để hình dung về con người trong khắp thiên hạ, tuy đều có một đầu đặt trên hai vai nhưng nếu đem so sánh với nhau thì xấu đẹp, thiện ác, cao thấy, gầy béo, văn tài võ nghệ, khác nhau nhiều lắm, không thể đánh đồng tất cả được.
Người thế nào thì mèo thế ấy, giả dụ như con mèo giỏi bắt chuột cũng giống như người biết ha miệng ăn cơm, đều là những tập tính bẩm sinh, không có gì lạ lắm. Mèo nhà, mèo hoang trong thiên hạ, ngoài việc biết bắt chuojt trèo cây ra tùy vào phẩm cấp, chủng loại khác nhau sẽ có các năng lực muôn màu muôn vẻ, làm sao có thể nhất nhất đánh đồng được?
Chính vì vậy có loại mèo giỏi bắt chuột giữ nhà, có loại mèo chuyên môn ăn vụng bắt sẻ, ngoài ra chúng còn có rất nhiều năng lực kì lạ, ít nghe thấy khác, không thể kể hết trong sách được. Trong hồi này nói riêng về những năm giữa đời Tùy và đời Đường. Đường Vương là Lý Thế Dân dẫ quân đánh đông dẹp bắc, một hôm một mình một ngựa đi do thám trại giặc, kết quả là lộ hành tung bị đại đội quân giặc truy sát, bỏ chạy đến bờ Hoàng Hà. Chạy vào đường cùng, sắp sửa bị bắt sống, nhưng ông ta là Chân long Thiên tử, có được thần linh phù trợ, trong lúc nguy cấp ngàn cân treo sợi tóc ấy, nống thấy trên sông Hoàng Hà có một con mèo khoang giống như cái hồ lô, dập dềnh trên sông, theo dòng nước từ thượng nguồn trôi xuống.
Lý Thế Dân vội vã nhảy xuống nước, hai tay nắm chặt vào đuôi con mèo, quẫy đạp để sang bờ bên kia, thoát khỏi sự truy kích cảu quân địch. Chuyện này về sau, ngay cả ông ta cũng cảm thấy kì quái, trên đời sao lại có con mèo biết bơi, liền đem ra hỏi đám bộ hạ. Có một người tên là Từ Mậu Công, là kỳ nhân hiểu rộng biết nhiều, trước tiên nói chúa công: “là người có hồng phúc, tự nhiên trời sẽ phù hộ”, sau đó mới nói về loài: “Độ thủy hồ lô miêu”
Loại Hồ lô miêu này tuy bảo là mèo nhưng kỳ thực không phải mèo. Vóc dáng của chúng to lớn hơn mèo thường nhiều, đáng ra nên xếp riêng ra 1 loại ” Ly miêu” ở trong núi sâu. Người chúng có dáng tròn, lông dài, đuôi dài, tính khí khác thường, có thể bơi lặn qua sông lớn, bắt cá tôm dưới nước để ăn, có thể bảy ngày bảy đêm không ngoi lên bờ.

Bọn mèo hoang trong thành Linh Châu gặp phải vận đèn trong miếu cổ của chùa Tháp Vương, nếu ngày thường thì chúng cũng gập đắng nuốt cay cho qua vì không biết bơi, bắt cá. Tuy nhiên, con Kim lân Đà ngư trong đầm sâu lại là mọt loài trăn quý của nước Bà La Cam Tư, nếu có thể ăn thịt nó có thể kéo dài tuổi thọ. Bầy mèo hoang ngửi thấy mùi tanh đời nào chịu thôi, liền quyết định phải ăn bằng được hai con Đà ngư dưới đáy giếng này.
Bầy mèo hoang thấy con Đà ngư dưới nước rất lợi hại, chắc hẳn khó lòng đối phó. Con Kim Ngọc Nô đầu đàn hết sức khôn ngoan lắm mẹo, cũng không rõ chúng đã bàn bạc tính toán thế nào, rốt cuộc tìm một con Độ thủy lô miêu về giúp đỡ.
Chỉ thấy con Hồ lô miêu nọ lê tấm thân lờ đờ chậm chạp, lắc la lắc lư đi đến bên bờ đầm nước. Nó không trực tiếp bơi xuống mà tìm một chỗ hết sức tối và ẩm, dùng móng vuốt bới gạch đá trên mặt đất đi. Dưới đáy giếng ẩm thấp lâu năm có rất nhiều loại côn trùng độc như nhện, rết,… béo múp, đèn đỏ lốm đốm, độc đại vô cùng, thấy bị mất nơi ẩn nấp, chúng liền nhao nhao chạy ra, tranh nhau cắn chích con Độ thủy hồ lô miêu to mập.
Con Hồ lô miêu thịt thô da dày, chịu được chất kịch độc. Bị bọn rết và bọ cạp cắn chúng, toàn thân nó từ đầu đến đuôi đều sưng phồng lên, nhưng những con trùng kia phun hết nọc độc cũng lăn đùng ra, giãy giụa rồi chết ở xung quanh. Trương Tiểu Biện và Tôn ĐẠi Ma Tử ở bên cạnh xem mà cả người nổi da gà,
Con hồ lô miêu bẩn thỉu thu hết nọc độc, thấy cũng đủ rồi liền phì phò bò đến bờ đầm, nhúng cái đuôi mèo dài thượt xuống nước. Toàn bộ uy lực của loài mèo nằm ở đuôi, vượt tường trèo cây đều do cái đuôi quạt gió giữ thăng bằng. Có nhiều nàh giàu chỉ nuôi mèo làm cảnh, chẳng cần chúng bắt chuột, để đề phòng chúng chạy chơi khắp nơi, liền cố ý cắt phứt cái đuôi mèo đi, con mèo lập tức biến thành một con vật ngoan ngoãn dễ bảo, chẳng làm nên trò trống gì được nữa.
Đuôi của con Độ thủy hồ lô miêu chia làm chín đốt. Xét theo miêu phổ thì lông đuôi mèo quý ở chỗ dài, đốt đuôi thì quý ở chỗ ngắn, lại nói thêm, cái đuôi mèo càng dài và tấn suất vẫy đuôi càng cao thì con mèo đó càng nhanh nhẹn, có thể bắt chuột không biết mệt mỏi. Nhưng cái đuôi của con Hồ lô miêu này thì vừa thô vừa tròn, là đuôi của con mèo vừa lười nhác vừa ham ngủ, lúc xuống dưới nước thì nổi phập phềnh như một cái thuyền.
Hai con Kim Lân Đà ngư canh giữ Phong Vũ chung đều đã có chút đạo hạn, những lưới cá, câu thính thông thường đều không qua được mắt chúng. Bỗng trông thấy cái đuôi mèo trên mặt nước, chúng không rõ ruốt cuộc là vật gì, dường như hơi giống với rắn nước nhưng lại chậm chạp hơn một chút, nếu bảo là cỏ nước thì sao lại có mùi tanh kì lạ như thế?
Cặp Đà ngư tuy rất nghi ngờ những không kìm được sự thèm thuồng liền rẽ nước bới đến gần, há miệng đớp đuôi con Độ thủy hồ lô miêu. Con Hò lô miêu vừa bị trùng chích đốt tơi bời nên da thịt toàn thân đều có chất độc. Trên mình Đà ngư cũng có bảy túi độc, khi trúng độc thì theo phản ứng tự nhiên cũng dồn nọc độc ra để chứ ngự trở lại. Hai con Đà ngư đớp chặt cái đuôi mèo không chịu buông, chẳng bao lâu sau đã nhả hết chất độc trong người. Đà ngư ăn tươi nuốt sống nhện nước, rắn nước kịch độc, tính khí toàn thân đều nằm cả ở đó, bây giờ nhả hết nọc độc ra, lập tức mình mẩy mềm nhũn, thoát lực, quẫy độc không nổi nữa.

Con Hồ lô miêu nhân cơ hội, vẫn sức kéo đuôi, lôi hai con đà ngư lên trên bờ. Những con mèo hoang khác, mắt vằn đỏ, gào lên rồi lại nhao lại bao quanh bốn phía. Hai con Đà ngư biết mình đã rơi vào vòng nguy hiểm, vội dùng hết sức lực cuối cùng, quẫy đầu vẫy đuôi định trốn xuống nước, nhưng sợi xích trên chúng đã bị thân hình con Hồ lô miêu to béo đè chặt xuống, đúng là” lợn béo đã vào nhà đồ tể; chui nhầm tử lộ trốn sao đang”, đành mặc cho đám mèo hoang lóc sạch từng mảnh vây cá, để lộ ra mỡ thịt khắp mình dầm dề máu đỏ.
Bọn mèo hoang Linh Châu như gió cuốn mây tan, ăn thịt hai con Kim Lân Đà ngư một trận sung sướng, quả nhiên mùi thịt tươi rất ngon. Bầy mèo hoang con nào con nấy rất thỏa mãn, hài lòng, sớm đã quên phắt viên ngọc kỳ quái. Đoạn chúng kêu meo meo mấy tiếng, lặc lè tiền hô hậu ủng, đưa con Kim Ngọc Nô và con Đọ thủy hồ lô miêu ra ngoài.
Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma tử vọt ra khỏi chỗ nấp sau tượng Phật đá, tìm dây xích từ trong đám xương vụn của hai con cá chết, cùng hợp sức kéo chầm chậm đưa Phong Vũ chung lên bờ. Cái chuông đồng dài xấp xỉ một thước, toàn thân màu xanh lục, chỗ gỉ loang lổ màu đỏ của chu sa, thủy ngân, trên thân chuông đúc nhiều hoa văn hình dị thú, cá rồng, song nước, từ bên trong nhà ra từng đường khói mù mong mỏng giống như mây lành bao bọc.
Trương Tiểu Biện dùng đốt ngón tay gõ thử, thấy tiếng vang trong trẻo, hơi lạnh, biết đúng là một bảo vật, trong lòng rất mừng rỡ, cười ha hả, nói với Tôn Đại Ma Tử: “Quả nhiên là trọng bảo của Linh Châu khiến người ta phải lóa mắt. Lần này đều do Miêu tiên gia phù hộ cho ta mới gặp được cơ duyên này, hay là gói ghém Phong Vũ chung rồi rời khỏi thành bỏ chạy, nửa quãng đời còn lại sẽ khỏi pải lo cơm ăn áo mặc?”
Tôn Đại Ma tử bội vã khuyên rằng: “Tam đệ chớ nảy sinh tà niệm, vật báu này đâu phải là vật để người tầm thường cất giữ? Chi bằng mau dâng nộp quan phủ thì cũng alf công lao của huynh đệ ngươi rồi”
Phàm là việc xử thế của con người đều không được có tư tâm, nếu tư tâm đã nổi lên thì sẽ làm những việc bất chấp hậu quả về sau, may àm đang lúc thiên hạ hỗn loạn, thuế má nặng nề, chẳng ai cịu bỏ tiền ra mua cái chuông cổ đó, chính vì vậy, Trương Tiểu Biện mới bỏ qua cái ý định đen tối này. Hắn lại nghĩ, cần học hỏi cho thật thuần thục việc xem tướng mèo thì việc thu thập báu vật lạ trong thiên hạ dễ như lấy đồ vật trong túi. Trương thiếu gia có khí độ của tể tướng, tầm nhìn hà tất chịu bó ngọn trong cái pHong Vũ chung này.
Lúc chiếc chuông đồng rời khỏi mặt nước thì đám mù trắng phun ra từ miệng giếng dần dần tan biến rồi tích tụ toàn bộ trên không trung, biến thành một đám mây đén. Toàn thành lập tức mù mịt, sấm nổ ầm ầm không dứt nhưng có hạt mưa nào, chỉ che khuất trăng sao àm thôi. Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma tử cho gọi toán lính dõng Linh Châu ở phía trên xuống nghe lệnh, sai chúng gói Phong vũ chung lại, rồi trực tiếp mang về giao cho Tuần phủ Mã đại nhân xử trí.
Đám lính dõng đều là người quê Linh Châu mấy ngày nay chính mắt thấy Trương Tiểu Biện liên tiếp lập chiến công. Trương Tiểu Biện lại chuyên nghề khoe khoang, nói tráng giang đại hải một hồi, chuyện bé bằng hạt vừng qua lời hắn cũng trở thành chuyện kinh thiên đồng địa, nghiêng sông dốc biển, thêm vào đó là miệng lưới trơn tuột, lời tuôn như suối, những việc vụn vặt không tên bỗng trở nên hoành tráng, rõ mồm một. tất cả đám lính dõng và công sai đều phục hắn sát đất, cũng khen ngợi Trương Bài đầu quả là có tài nghệ cao cường, kỳ tài đại lược đó ắt sẽ được trọng dụng, sau này nhất định sẽ được triều đình đề bạt, khen thưởng, đến lúc ấy xin chớ quên chiếu cố đến tụi huynh đệ này.

Vừa đi vừa nói đã đến trước cổng của phủ Mã đại nhân. Tuy đương lúc nửa đêm, nhưng Việt khấu đang vây thành rất gấp, toàn thành đang phòng bị nghiêm ngặt, mã đại nân trong lòng cũng rất lo âu, nửa đêm không thể ngủ yên, vừa được tin báo đã lập tức dặn đưa Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử đến hậu đường gặp mặt.
Cô ả tiểu Phượng làm Mã phủ rốt cuộc cũng có được mấy ngày yên ổn, thấy Trương Tiểu Biện và tôn Đại Ma Tử đều được làm chức bà đầu Bổ khoái trong nhâ môn Linh Châu, liền mừng thay cho ca rhai. Nhưng cô ả thấy Mã đại nhân đang vội vã hỏi han nên không thể đi tới trò chuyện được, đành phải khép nép đứng hầu một bên.
Mã Thiên tích xem qua cái Phong Vũ chung, rồi liếc mắt nhìn Trương Tiểu Biện, thật chẳng ngờ người này lại có thể làm việc đắc lực đến thế, chuyện khó tày trời mà xem như không, vì vậy, lão cũng không giấu giếm nữa, đèm sự tình kể cho Trương Tiểu Biện avf Tôn Đại Ma Tử rằng: “Đối với bản quan thì Phong Vũ chung này vô dụng, nhưng quan Đề đốc trấn thủ Linh Châu Phú Sát Đồ Hải thì đang rất mong có được nó. Người này xuất thân từ Thượng Tam Kì, phe cánh gia tộc giải rác khắp triều đình, đáng gọi là người có nền tảng có thế lực. Ông ta đi nhậm chức ở đây, mang theo toàn bộ gia quyến vào ở trong thành. Lão Đồ hải có một co con gái, cưng triều như ngọc quý trên tay, vì vậy mới co tên là Phú Sát Minh CHâu, hiện nay tuổi mới mười sáu, xinh như hoa như ngọc, đẹp nổi tiếng một vùng. Đáng tiếc là từ khi tới Linh Châu, nó sinh ra chứng bệnh lạ, thầy thuốc khắp nơi không chữa được. Nghe nói có một danh y đã kê một bí phương, cần có được Phong Vũ chung hứng nước mưa, sau đó đun sôi rồi mang ra tắm mới có thể thuyên giảm. Đương vất vả tìm khắp nơi, may mà hôm nay các ngươi đã mò được vật này dưới đáy giếng cổ chùa Tháp Vương lên, lão Đồ hải biết được chắc chắn sẽ trọng thưởng hậu tạ, đến lúc đó bản quan sẽ nhân cơ hội đề cử các ngươi”
Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử vội vã bái tạ, chỉ có điều Trương Tiểu Biện trong đầu lại có toan tính khác. Trong Miêu Tiên từ, Lâm trung Lão Quỷ đã mách cho hắn mấy việc lớn, nếu đều thực hiện thành công thì tự nhiên sẽ được thăng quan tiến chức. Mây việc đó, một là đến Hoang táng Lĩnh giết con Thần Ngao, hai là dẫn bầy mèo vào giếng cổ chùa Tháp Vương mò Phong Vũ chung lên. Những sự việc đó, cứ liên tiếp diễn ra, chúng đều có mối liên hệ với nhau. Con việc thứ ba chính là phải bắt được giáo chủ Bạch Tháp chân nhân của tà giáo Tạo Súc.
Vì vậy, Trương Tiểu Biện bẩm báo Mã đại nhân, căn bệnh lạ của Phú Sát Minh Châu tiểu thư không phải dùng thuốc mà chữa được, nó có căn nguyên từ yêu nghiệt đang ẩn nấp trong Đề đốc phủ, nếu không sớm diệt trừ tận gốc, chỉ e gây hậu họa khôn cùng.
Đúng thật là: “Hai tay xé toạc lưới kim tuyến; lôi hẳn ra ngoài chuyện thị phi” muốn rõ sự thể thế nào, hãy xem hồi sau sẽ rõ.
Hồi thứ 7: Bạch Tháp Chân Nhân
Nói đến đoạn trong phủ Đề Đốc Đồ Hải, ngoài chính thất nhị phòng, ba thê bốn thiếp của lão ra, còn có rất nhiều nô bộc, tạp dịch, trên dưới hơn 100 người không ai được ngoại lệ, phàm là có mũi, có tay chân và biết thở đều phải tập trung trong sân của hậu đường. bến trái già, lão đã dai dùng gốc cây quế làm củi, ninh nhừ thịt con ngao và nhân sâm, già trẻ lón bé đều phải lần lượt đi qua để uống canh.

Mẫ Thiên Tích dẫn bọn Trương Tiểu Biện nấp trong phòng, ghé mắt nhìn trộm ra ngoài, mỗi một người đi qua, Đề đốc Đồ Hải đúng cạnh khẽ nói với Mã đại nhân, đây là ai, là thân quyến cũng thế, là nô bộc trong nhà cũng thế, thân phận, lai lịch đều nói rõ ràng, nhưng trong nháy máy đã kiểm tra hết một lượt, nhưng từ đấu chí cuối vẫn chưa phát hiện ra người nào khả nghi trong đó.
Trương Tiểu Biện thấy con mèo đen chẳng nhúc nhích tí nào, trong lòng đã có chút bối rối. Thấy thần sắc trên mặt Mã đại nhân và Đề đốc Đồ Hải đanh lại, hắn đã hơi chột dạ, nhưng Lâm Trung Lão Quỷ đã nói bạch Tháp chân nhân ẩn nấp trong nàh Đề đốc Đồ hải, làm sao sai lệch được? Xem ra, chưa hẳn hắn ta đã trà trộn vào đám thân quyến, nô bộc, có khả năng như Phan hòa thượng, đào một cái hang ngầm trong vườn để ẩn nấp không hay.
Trương Tiểu Biện đang định tìm một cái cớ để lấp liếm, bỗng nghe Mã đại nhân hỏi Đề đốc Đồ hải: “Người trong quý phủ đẫ ra hết rồi chăng? Sao không thấy tiểu thư Minh Châu?” Đề đốc Đồ hải đáp: “Con gái ta là người hiểu rõ thi thư lễ nhạc, đung mạo đoan chính. Sao có thể là bạch Tháp chân nhân cảu tà giáo? Nó chí có hai con a hoàn hầu hạ ở nhà sau, bây giở đướng lúc loạn nê xưa nay chưa từng ra khỏi nhà, cũng chưa bao giờ cho gặp người ngoài”
Mã Thiên Tích alf tổ sư trong nghề phá án, thẩm hình, xưa nay có biệt hiệu là “Mã vương gia”, nghe đồn trong lcus thẩm vẫn lão tinh tường như có ba con mắt, suy nghĩ thì kín đạo lạ thường, chưa từng bỏ qua một chi tiết nhỏ nhặt nào. Lão biết hôm nay nếu không bắt được Bạch Tháp chân nhân, một là đã đánh rắn động cỏ, từ nay về sau càng khó tiễu trừ, hai là đã đích thân đem người đến phủ Đề đốc tra xét một lượt mà không tìm ra bằng cứ xác thực nào thì thật khó ăn nói. Chính vì vậy, lão mới khuyên Đề đốc Đồ hải mời tiểu thư Minh Châu và hai a hoàn ra, chúng ta không sợ giết nhầm, chỉ e bỏ sót, đến loài thỏ còn cần đào ba hang, vả lại chuyện này có quan hệ đến an nguy của cả nhà Đồ đốc, không nên sơ suất chút nào.
Đề đốc Đồ hải không còn cách nào, nghĩ thầm”tạm thời cứ để “Mã vương gia” người đắc ý đi, sau này chúng ta tính toán cũng không muộn”. Lão liền sai người đưa tiểu thư vào vườn uống canh an thầ.
Mọi người đợi một lúc mới thấy tiểu thư Minh Châu được một a hòa dìu bên cạnh, chầm chậm đi ra, cúi chào thỉnh an rồi mới đi lại uống canh sâm. Thịt con ngao rất già, điều chế với củ nhân sâm nghìn năm nên vị canh hết sức nóng và đắng, khó uống gấp nhiều lần các thang thuống khác. Tiểu thư Minh Châu bịt mũi uống nửa bát, còn lại hơn nửa bát thì đưa cho a hoàn uống.
Trương Tiểu Biện lần đầu tiên gặp mặt tiểu thư Minh Châu, thấy làn thu thủy, nét xuân sơn, thực là chim sa cá lặn, nếu chảng phải là bà chúa tuyết Cổ Xạ giáng trần thì cũng là Quảng hàn tiên tử trên cung trăng đầu thai, chảng ngờ lão Đề đốc Đồ Hải lại có đứa con gá xinh đẹp đoan chính như thế, nếu Trương tam gia cưới được về làm vợ thì cũng không uổng một đời người. Trong lòng hắn động tà niệm, ngẩn người ra nhìn ngắm tiểu thư Minh Châu.
Nào ngờ đâu, ngay lúc ấy, con mèo đne trong lòng hắn đột nhiên co rút người lại, sợ đến nỗi toàn thân run lên bần bật, chí có đôi mắt mèo là nhấp nháy sáng. Trương Tiểu Biện cả sợ: “Chẳng nhẽ co tiểu thư này chính là Bạch Tháp chân nhân tinh thông tà thuật taqoj Súc hay sao?”

Trương tiểu Biện vốn không biết đặc trưng diện mạo của Bạch Tháp chân nhân, càng không rõ nó là nam hay nữ, nhưng nghe đồn vào những năm Gia Tinh đời Minh, các tỉnh đã có trát truy nã tên đầu đảng giặc cướp này nhưng ốt cuộc đã không bắt được và cũng không có ai chính mắt trông thấy chân thân của hắn. Tiểu thư Minh Châu chỉ là giai nhân tuổi vừa đôi tám, làm sao có thể là Bạch Tháp chân nhân đã nối tiếng lâu năm như vậy được? CHẳng lẽ yêu đạo đó đã tu luyện đến mức có thể thay hồn nhập xác hay sao?
Nhưng trên người của đám yêu nghiệt Tạo Súc ngưng tụ rất nhiều tà khí, đằng sao thường có vô số oan hồn bám riết, chính vì thế con Nguyệt ảnh ô đồng kim tuyến miêu mới ohats sinh cảm ứng, sợ đến nỗi lông lá toàn thân dựng đứng lên, chỉ giận không thể nhanh chóng cao chạy xa bay, hoặc tìm một khe nứt nào đó để ẩn nấp. tình hình này thực giống hệt lúc gặp phải Phan hòa thượng ăn thịt trẻ con trong thành Đũa.
Bên cạnh tiểu thư Minh Châu là một a hoàn tùy thân chuyên hầu hạ nàng, tuổi cũng mới chừng 15, 16, dáng vẻ ngoan ngoãn dễ thương, đã được đưa vào phủ làm nô tỳ từ thuở nhỏ, cũng không phải là laoij lai lịch bất minh. Bọn Trương Tiểu Biện toàn là người trần mắt thịt, chủ trì đại cuộc là Mã thiên tích tuy độc địa, lão luyện những cũng không có mắt lửa người vàng, rốt cuộc cũng không nhận ra hai trong người đó là Bạch Tháp chân nhân.
Quan phủ đã trải qua nhiều năm tiêu trừ nhưng chưa bao giờ quét sạch triệt để đám dư đảng của yêu tà Tạo Súc, Bạch Tháp chân nhân lại là nhân vật có tên tuổi lẫy lừng hơn hẳn phường trộm cướp tầm thường, vì vậy, ai nấy đều căng thẳng như cung đã lên dây, ngấm ngầm chuẩn bị sắn sàng, chỉ đợi Mã đại nhân ném chén làm hiệu.
Mã đại nhân không khỏi do dự trong lòng, tay cầm chén trà mà trừ khừ không quyết, ra hiệu cho Trương Tiểu Biện mau nghĩ biện pháp tìm đúng chân thân của Bạch Tháp chân nhân. Trương Tiểu Biện hồn vía lên mây, chỉ còn cách ngầm bóp chặt tai con mèo đen để nó đừng náo loạn, hai đại cô nương xinh đẹp như hoa như ngọc này làm sao có thể là đám yêu tà được?lỡ ra nhận nhầm thì khó àm thoát được.
Con mèo đne tuy bị đua tai nhưng vì quá sợ hãi , đến kêu cũng không dám kêu tiếng nào. Trương Tiểu Biện. Trương Tiểu Biện cảm thấy kì lạ, ngẩng đầu nhìn ngó một lần nữa ở bên ngoài hành lang, chỉ thấy tiểu thư Minh Châu và con a hoàn của cô ta đang rời gót quay về, nhưng con Nguyệt ảnh ô đồng kim tuyến miêu lại đột ngột run như cầy sấy, sợ co ro cúm rúm mãi không thôi, rõ ràng có một vật gì đó đang từ đằng sau tiến lại gần khiến nó sợ muốn chết.
Tương Tiểu Biện vội vã khoát tay ra hiệu mọi người hớ hành động tùy tiện hành động vì bây giờ mục tiêu mới bắt đầu đi tới. Chính lcus ấy, một con hoàn khác, to béo ngờ ngờ nghệch ló ra. Trong lòng ả ôm một con chó xù lông trắng, đi thẳng đến hành lang để uống canh. Bên cạnh tiểu thư Minh Châu vốn có hai con a hoàn, đây là chuyên làm việc vặt, và ôm chó hộ tiểu thư.
Trương Tiểu Biện thấy cặp mắt vàng của con mèo vần lên tia máu, hiểu rằng nó đã sợ hãi đến mức tột độ nên mới sinh ra như thế. Hắn đột ngột nhớ lại lúc trong lò đúc ở Hoang Táng lính, gặp phải lão Thiết Trung đang hấp hối, nghe lão kể lại rằng, chưởng quầy Thiết Công Kể của Tùng Hạc đường, đã bí mật đem cương thi vào núi hoang để bãn cho con chó xù lông trắng, rồi bị giết chết. Chẳng nhẽ con chó xù được Thiết Công kê gọi là Bạch gia đó, chính là Bạch Tháp chân nhân?

Trương Tiểu Biện phản ứng rất nhanh, con chó xù lông trắng đó cho dù không phải là BẠch Tháp chân nhân thì hẳn cũng có mối qaun hệ mật thiết với yêu đạo. Thật đúng là số kiếp nó đa đến hồi mạt vận, nếu con a hoàn ngốc nghếch đó không ôm con chó đến uống nước canh thì thiếu chút nữa đã bị nó qua mặt rồi.
Mã đại nhân thấy Trương Tiểu Biện gật đầu làm hiệu liền đạp vỡ chén trà trong tay. Con chó xù lông trắng đảo lộn cặp mắt gian giảo, lcus đi qua hành lang tựa hồ như đã cảm thấy có nguy cơ đang tiềm phục, đương khi hết sức nghi ngờ trong dạ, bỗng nghe trong phòng có tiếng vỡ loảng xoảng, tình hình có vẻ nguy, tựa như chim sợ cành cong, nó vội giãy khỏi lòng con a hoàn nọ, chạy xuống đất đào thoát.
Công sai mai phục bốn mặt như hùm như hổ, cùng lcus ùa ra, nhưng đều cho rằng cần phải bắt con a hoàn ngốc nghếch, chẳng ai thèm để ý đến con chó xù lông trắng, liền mặc kệ cho nó chạy vọt qua. May thay, Tôn Đại Ma tử nghe thấy tiếng Trương Tiểu Biện tri hô, nhanh tay nhanh mắt quát lên: “Cho mày chết này!” Một gậy quét ra khiến con chó bị hất tung lên trên không, hộc máu mồm, lăn xuống đất. Trương Tiểu Biện vội vã rút ngay sợi lòi tói, chói nghiến con chó thành một đống.
Con a hoàn bế con có cũng bị toán bổ khoái đè chặt xuống đất, sợ hãi đến m,ức vãi đái ra quần, ú ớ không nói thành lời. Đề đốc Đồ hải không rõ đầu đuôi, cũng không nhìn thấy Bạch Tháp chân nhân ở đâu cả, sao alij hồ đồ trói một con a hoàn sai vặt và một con chó xù lông trắng trong nhà.
Mã đại nhân hạ lệnh cho thủ hạ không được lỗ mãng để tránh làm cho kẻ vô tội phải sợ hãi, rồi lão mượn một gina mật thất trong phủ Đề đốc, cho đốt đèn để thấm án trong đêm. Nào ai ngờ nổi không tra án thì thôi, chứ hỏi ra thì làm rõ được một kỳ án kinh thiên động địa.
Thì ra, ả a hoàn bế chó hoàn toàn không can hệ gì, thứ mà con mèo đen Linh Châu sợ hãi chính là con chó xù lông trắng đó. Mặc dù vậy, từ xưa tới nay, việc thẩm án chỉ là tra hỏi người để lấy khẩu cung chứ sao có thể cật vẫn ra hành tung của Bạch Tháp chân nhân từ mồm một con chó.
Cho dù Mã Thiên Tích là người giỏi việc xét đoán các đại án quan trọng, nhưng trước tình hình đó cũng đành bó tay, đành phải cho thắp đèn trong gian mật thất, đòi một số người có liên quan đến để hỏi, chủ yếu là tra xét lai lịch của con chó xù lông trắng trong phủ Đề đôc. Lúc ấy, lão mới biết con chó được mua ở thành Bắc Kinh, xưa nay vẫn ngoan ngoãn dễ bảo, giỏi đoán ý chủ nhân, chưa từng thấy có cử chỉ dị thường nào.
Lúc ấy, trong mật thất chỏ còn Đề đốc Đồ Hải, Mã Tuần phuvà Trương Tiểu Biện, Tôn Đại Ma Tử. Con chó trắng bị Tôn Đại Ma Tử đánh trúng một gậy hộc máu, bị xích lại ở một góc mật thất, nằm phục xuống ngoan ngoãn, gục đầu không ngừng liếm lapx vết thương trong ánh mắt đầy vẻ sợ hãi.
Trong lòng Đồ Hỉa đầy sự bất mãn, nghĩ thầm: “tên họ Mã không hiểu hồ đồ thế nào àm lại nghe lời khoác lác của trương Tiểu Biện, nửa đêm nửa hôm đem cả nhà ta ra hành hạ khổ sở, rốt cuộc lại bắt một con chó không liên quan gì. Con chó này làm sao là Bạch Tháp chân nhân cho được? Định đùa cợt như vậy, chẳng nhẽ không sợ vuốt râu hùm của bản Đồ đốc ta sao?” Lão bất giác định bụng nổi giân đùng đùng ngay lúc ấy.

Đề đốc Đồ Hải còn chưa kịp nói, bỗng nghe Mã đại nhân vỗ án rất mạnh, mắng thằng tặc tử còn dám man trá, gọi tả hữu mau chuẩn bị đại hình, dùng cây châm thép chấm với phân nóng đâm vào bụng con chó.
Đề đốc Đồ Hải những tưởng Mã đại nhân tìm một cớ để rút lui nên mới dùng địa hình để tra khảo một con chó trắng. Lão càng thấy bất mãn, huống hồ đánh chó cũng phải ngó mặt chủ chứ! Nghĩ đoạn, lão liền giơ tay ngăn lại, nói: “Con chó này lúc bình thường rất dễ bảo, chưa từng sủa đổng cắn càn, vì vậy người trong nhà rất yêu quý nó, sao các ngươi lại cứ cố đánh đập nó thế?”
Mã đại nhân nói: “Đề đốc có chỗ còn chưa biết đấy thôi! Như bản quan thấy, con chó này đúng là hết sức bất bình thường, chắc chắn nó vốn không phải là một con chó”. Nói đoạn, lão lại sai tả hữu lập tức tra tấn. Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử dạ ran lĩnh mệnh, vén tay, xắn áo hùng hổ định xông lên động thủ, bỗng nhiên, con chó lông trắng đang bị xích ở góc tường đứng thẳng dậy như người rồi phục xuống đất, khấu đầu lạy như tế sao, hơn nữa, miệng còn phát ra tiếng người: “Thuowbngj quan minh giám, nay tôi đã bị khám phá ra hành tung, biết không thể ẩn nấp được nữa, không dám man trá điều gì, chỉ xin được miễn phải chịu tra tấn” Âm thanh phát ra sắc nhọn như chọc vào màng nhĩ, nghe ý tứ trong lời nói hẳn là nó sợ bị tra khảo nên xin tha mạng trên công đường.
Đề đốc Đồ Hải sợ đến mức trợn tròn mắt, há mồm, sao trong phủ lại nuôi một con yêu quái như thế này? Mã đại nhân nhăn mặt lạnh như tiền, sai Bài đàu tả hữu cắt đứt mấy sợi gân lớn của con chó trắng, giải đến trước mặt để thẩm vấn lấy khấu cung.
Con chó trắng biết mình đã rơi vào tay quan phủ thì chẳng có gì tốt đẹpm chịu đau đớn khi bị cắt đứt gân, hai amwts ánh lên những tia oán độc, nhưng lại sợ bị tra tấn, đành phải cung khai sự thực, tự nhận mình chính là “Bạch Tháp chân nhân” Từ những năm cuối đời Bắc Tống ở thành Linh Châu đã có những hành động của đám Tạo Súc, lúc ấy là bắt cóc người bằng đủ các thủ đoạn, người thường khó có thể tưởng tượng được ra nổi. Có một loại lưu lạc giang hồ biểu diễn kiếm tiền, chuyên diễn các tạp kĩ để mưu sinh, trong đó, có những kẻ chuyên thuần dưỡng chó để diễn xiếc. Kẻ luyện chó để diễn đều là những lão già lớn tuổi, nhưng những con chó ấy đều không phải là chó thật mà là những đứa trẻ bị bắt cóc.
Người đời không biết tường tận, đều cho rằng bọn người đó có yêu thuật, hóa phép người thành súc vật, có thể biến đàn bà, trẻ con thành súc vật để bán lấy tiền, câu chuyện đồn đại được truyền ra thêm thắt yếu tố thần kì khiến người nghe phải biến sắc, nhưng kì thực không phải là như vậy. Bọn bất lương dùng thuốc mê bắt cóc những đứa trẻ tầm bốn, năm tuổi ở các thôn làng rồi đem về nhà, giết một con chó có vóc dáng xấp xỉ đứa trẻ nọ, lột bỏ da, rồi nhân lúc còn ấm nóng phủ lên người đứa trẻ. Bộ da chó vừa vặn đẫm máu me còn tươi nguyên sẽ thịt chặt vào đứa bé, không thể lột da được nữa. Bọn nghiệt đồ Tạo Súc còn dùng các thủ đoạn để hành hạ, bắt đứa trẻ trong bộ da chó phải bắt chước giống hệt các động tác của loài chó, nếu không nghe lời sẽ bị dánh chết, vứt xác ra ngoài đồng hoang.

Đến khi đứa trẻ đã thuần phục, chúng mới đem ra ngoài phố làm chó diễn xiếc kiếm tiền. Con người thì khôn ngoan hơn chó thì dẫu là trò lật bảng đọc chữ hay nhảy vòng, vái lạy, lặn lộn đều không phải bảo ba nhiều, vì vậy thường hấp dẫ người xem và kiếm được nhiều tiền thưởng. Mặc dù vậy những đứa trẻ khoác bộ da chó đó bị bọc chặt tới mức nóng bức khó chịu, hơn nữa cơ thể không thể lớn và phát dục được, ngay cả ngày đông lạnh giá hay tháng hè oi bức cũng chỉ có một bộ da chó trên người, toàn thân chúng bị cảm nóng cmar lạnh, không quá sáu tháng, một năm sẽ bị chết ngộp trong bộ da chó, tình trạng thảm thương không kể xiết.
Nhưng tà thuật tạo Súc chỉ hưng vượng đến khi người Kim xâm chiếm phương Nam, bắt hai vua Huy tông, Khâm tông. Thiên hạ đại loạn, nước mất nhà tan, quan lại hình ngục chỉ có làm vi, quan lại coi mạng người như cỏ rác, tính mạng người dân không có giá trị gì, muốn bắt là bắt, muốn giết là giết, chẳng khác nào giết một con rận, con rệp, tuyệt nhiên chúng không bao giờ để tâm. Đúng thật là: “Thà làm chó thời bình; Chớ nhằm lúc loạn mà sinh làm người“. Muốn biết sự thể thế nào xem hồi sau sẽ rõ.
Hồi thứ 8: Quấn gai tra, lột da hỏi

Lại nói, quan phủ giở thủ đoạn sấm sét, bắt sống Bạch Tháp chân nhân đang ẩn náu trong phủ Đề Đốc, giải đến mật thất, định dùng nghiêm hình tra hỏi, hắn nào dám không cung khai?

Bạch Tháp chân nhân tự biết khí số mình đã hết, lại sợ bị quan phủ tra khảo tàn khốc, đành thổ lộ hết sự thật, nói ra nguồn gốc của phái Tạo Súc. Theo lời truyền tụng của dân gian, cái gọi là tà thuật Tạo Súc phần nhiều chỉ vào đám yêu nhân biết thuật lạ, mê hoặc đàn bà, con trẻ, bắt họ phải uống nước bùa chú, biến người sống thành các loại súc sinh như : lợn, lừa, bò, dê… rồi mang ra bán ở chợ để kiếm tiền, nhưng thực chất đố chỉ là những lời đồn đại ngoa truyền, không có thực.

Thực ra, bắt đầu từ khi nhà Tống dời xuống phía Nam, thiên hạ đại loạn, tai họa liên miên, dân đói đầy đường, các cô gái lớn cắm rơm lên đầu làm hiệu để bán thân còn không đáng giá một nửa con lừa. Vào lúc ấy, có một bọn bất lương chuyên đi lại trên giang hồ biểu diễn kiếm tiền, chúng sử dụng trăm phương ngàn kế để thu lợi, bắt cóc trẻ con nam nữ, lột da chó bọc lên mình đưá trẻ, sau đó dùng thêm nhiều thủ đoạn để đày đọa huấn luyện, bắt chúng phải biểu diễn các trò xiếc. Những người bị hại chết trong tay bọn chúng nhiều không đếm xuể.

Người dân không hiểu nội tình, thấy bọn chó biểu diễn trên phố, con nào con nấy lanh lợi, ngoan ngoãn, đều cho rằng nghệ nhân biểu diễn xiếc có ngón nghề cao cường chứ nào biết đâu, những hành động ám muội mà bọn chúng đã làm toàn là những việc không còn lẽ trời.

Mãi tới sau này, khi thế sự dần dần ổn định, quan phủ mới bắt đầu truy nã đám Tạo Súc, hễ bắt được đều dùng cực hình xử trí. Dưới sự trấn áp bằng hình phạt tàn khốc, bọn chúng dần dần biến mất. Mặc dù vậy, mỗi lần có chiến tranh hay thiên tai, lòng người không yên ổn, phong tục không được như xưa, tà giáo Tạo Súc lại được khôi phục, dần dần tạo được thanh thế, bái tháp cổ làm Tổ sư, tự xưng là ” Tháp giáo”. Chúng chuyên đi cắt nam dương, nữ âm của người chết phối làm thuốc, hễ luyện thành thuốc mê thì có thể sai khiến được các loại động vật, lớn thì to như trâu, voi, ngựa, cá kình, nhỏ thì bé như côn trùng, kiến, chuột. Đám yêu tà Tháp giáo phần lớn đêu bí mật lẩn trốn, mai danh ẩn tích, sai khiến các loại súc sinh để làm những việc gian tà phạm pháp, quan phủ cấm đoán nhiều lần mà không dứt được.

Bạch Tháp chân nhân còn vang danh trước khi Bạch Liên giáo nổi dậy, các châu, phủ huyện ở khắp nơi đều có cáo thị truy nã tên giặc này. Tuy thế, hắn sinh ra đã có dị tướng, bẩm sinh còi cọc, cao không đầy ba tấc, mặt mũi hết sức khó coi, từ nhỏ đã bị người nhà xem như quái vật, vứt bỏ ở vùng núi hoang mạc mặc cho tự sinh tự diệt. May mà hắn mệnh lớn không chết, cứ lăn lóc ăn trái cây, uống nước suối để sống, sinh hoạt cách biệt với trần thế mấy năm. Sau này hắn gặp được môt dị nhân Tháp giáo trong núi sâu, được truyền thụ sách lạ, học được tà thuật, từ đó mới xuất sơn làm những chuyện gian tà, đồng thời, thu nạp rất nhiều môn đồ, đệ tử, trở thành giáo chủ của Tháp giáo, tự đặt hiệu là ” Bạch tháp chân nhân”.

Nhưng, vì Bạch Tháp chân nhân có hình thù tướng mạo hết sức đặc biệt, lúc ngày thường không ra khỏi cửa thì thôi, chứ hễ ra ngoài đường thì ắt sẽ bị đám Bổ khoái tinh mắt nhận ra hành tung bắt lấy để hỏi tội, làm sao có thể sống ung dung ngoài vòng pháp luật cho đến tận ngày nay? May mà hắn bẩm sinh đã giỏi sủa tiếng chó, thường gỉa làm chó trèo tường băng vách, nhanh nhẹn như gió, chính vì vậy, hắn vạch mưu, làm theo cổ pháp từ thời Tống, lột da một con chó Bắc Kinh lông trắng, rồi cứ để máu me đầm đìa như thế mà khoác vào người. Từ đó về sau, hắn coi như lắc mình biến thành một con chó trắng ngoan ngoãn, từ tướng mạo đến cử chỉ đều không hề sai lệch, hoàn toàn giống như thật.

Bạch Tháp chân nhân tuy thanh thế rất lớn, là đầu sỏ của một gian đảng nhưng lúc ấy triều đình mải trấn áp Bạch Liên giáo, không có thời gian để mắt đến chúng. Từ sau khi Bạch Liên giáo bị tiêu diệt, các địa phương truy nã bọn cầm đầu phản tặc rất gắt, Tháp giáo cũng dần dần bị tan rã, đám tàn dư im hơi lặng tiếng, trà trộn trong dân gian.

Có câu rằng: “Cao tay thì ẩn trong triều, bình bình thì ẩn chỗ nhiều thị phi“, Bạch Tháp chân nhân giả làm một con chó, trốn vào nhà giàu có, đám Bổ khoái vốn không biết chân tướng của hắn, muốn truy nã chẳng khác nào mò kim đáy biển, tìm đâu cho ra?

Tới khi loạn Việt khấu lan tới Giang Nam, Bạch Tháp chân nhân liền nhân cơ hội, trà trộn vào phủ tướng quân của Đồ Hải, theo cả nhà già trẻ, lớn bé của Đồ Hải về thành Linh Châu. Ở đây, hắn câu kết với đám dư đảng cũ, định nhân cơ hội loạn lạc lấy tiền bạc trong công khố. Trong đám môn đồ của Bạch Tháp chân nhân, chỉ có lối hành xử của hòa thượng Chuột là kỳ bí nhất. Phan hòa thượng đem bầy chuột nấp vào Hòe viên rồi đào một đường địa đạo, lén ăn cắp bạc trong công khố mang về. Mắt thấy đại công sắp cáo thành, nào ngờ không rõ vì sao hành tung của lão bị bại lộ, khiến Phan hòa thượng rơi vào tay quan phủ, bị giải ra giữa chợ lăng trì tùng xẻo.

Việc này khiến Bạch Tháp chân nhân tức đến nỗi muốn đập đầu vào tường, thống hận đám công sai chó diều của quan phủ không sao kể xiết. Song, hắn cũng không rõ tại sao Phan hòa thương bị sa cơ nên không dám mạo muội lộ diện, đành ngấm ngầm sai con Thát tử khuyển ở Hoang Táng lĩnh vào pháp trường Linh Châu náo loạn một phen, coi như thay đồ đệ rửa hận.

Nào ngờ, chuyện vẫn còn chưa kết thúc ở đó, đầu chó của con Thát Tử khuyển cũng bị quan phủ treo trong thành để thị chúng. Bạch Tháp chân nhân liên tiếp bị cắt đi các cánh tay đắc lực, trong long không khỏi kinh hãi. Hắn biết nhất định có cao nhân muốn đối phó với hắn, nếu không, chỉ với đám quan binh Linh Châu thì không thể giết được con Thần Ngao hung tàn như thế, may mà hắn vẫn còn ẩn nấp kín đáo trong phủ Đề Đốc, bằng không, lúc ấy ắt hẳn đã bị quan phủ bắt sống xử trị rồi.

Bạch Tháp chân nhân nham hiểm, giảo hoạt, cực kỳ đa nghi, càng nghĩ càng thấy phủ Đề Đốc chưa chắc đã là nơi an toàn. Hắn định bụng trốn ra khỏi thành để ẩn náu, nhưng thành Linh Châu đang bị Việt khấu tầng tầng lớp lớp bao vây, cửa thành đều đóng chặt, đến nỗi một con chim cũng bay không lọt, vì vây, hắn định trốn vào một căn nhà hoang trong hang cùng ngõ hẻm nào đó. Lúc bấy giờ đang khi binh mã hỗn loạn, chỗ nào cũng có rất nhiều phòng trống có thể ẩn nấp được, chẳng ai thèm để ý đến một con chó hoang trong một căn nhà trống, cũ nát, thế mới là cách trốn tránh ổn thỏa nhất.

Đương lúc định tính toán như vậy, hắn lại nghe có người mang Phong Vũ chung đến phủ Đề đốc. Trong núi sâu, những thử đoạn Bạch Tháp chân nhân tu luyện được đều là loại “Tặc công phu”, nghĩa là sao? Đương nhiên là những thủ đoạn luyện thành lúc canh năm về sáng, có câu ” Gà chờ sáng, chó canh đêm”, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi đều hết sức thính nhạy, cho dù một chút gió lay cây động hơi bất thường cũng không qua được sự cảm ứng của hắn, chính vì vậy, vừa đánh hơi được mùi của đồ vật bằng đồng, biết chắc người ta đã mang bảo vật đến phủ Đề đốc. Hắn bất giác động lòng tham, liền chui từ ổ chó ra ngoài, quấn quít bắt con nha hoàn bế cho phải ôm lên, tựa hồ như chó hiểu tính người, cũng muốn đi uống canh vậy. Con a hoàn chẳng đặng chẳng đừng phải ôm nó đi xuống hành lang.

Vốn đám Tháp giáo Tạo Súc đều thờ một tòa tháp cổ làm tổ sư, rất tin tưởng rằng trên thế gian tồn tại sự hiển linh của tháp. Hồi xưa ở thành Linh Châu, có một tòa cổ tháp cao chọc trời, được gọi là “Vạn tháp chi vương”. Tòa bảo tháp bát giác này tuy đã bị phá hủy từ lâu nhưng trong giếng cổ dưới chân tháp vẫn còn giấu một cái chuông đồng có thể quần tụ mưa gió. Cổ vật linh thiên hội tụ long khí của tháp báu nghìn năm, vì vậy đám yêu tà đó đều coi thành Linh Châu là thánh địa, lấy đó làm sào huyệt của Tháp giáo.

Mấy năm trở lại đây, Bạch Tháp chân nhân vất vả tìm kiếm Phong Vũ chung nhưng không có kết quả, đột nhiên nghe nói vật đó đã hiện thân, đương nhiên hắn sung sướng phát điên. Chẳng ngờ tính sai một bước, khác nào Quan Vũ sơ ý mất Kinh Châu, vừa tới hành lang hắn đã phát hiện sự tình không ổn, nhưng không kịp thoát thân lẩn trốn thì đã bị Nguyệt ảnh ô đồng kim tuyến miêu của Trương Tiểu Biện nhận ra, bị bắt ngay tại trận, nếu hắn nhẫn nhịn không lộ mặt thì ai mà tìm ra được? Hắn nghĩ một lượt từ đầu đến cuối càng thấy chuyện xảy ra rất vô duyên vô cớ, đành tự nhủ chắc là do quỷ thần xui khiến ra thế, số mệnh đã định, ắt phải có hạn lớn ập xuống, sự tình do nhân quả chứ không phải do người có thể tính ra được.

Mã Thiên Tích trước đây làm tri phủ đã từng đích thân phá được một cái án liên quan đến phải Tạo Súc. Hồi ấy có kẻ bất lương bắt trẻ con bọc vào tấm da khỉ, lại dùng xích sắt trói lại, bắt gõ phèng diễn xiếc. Con khỉ thấy kiệu của Mã tri phủ đi qua liền cản lại giữa phố, quỳ xuống rỏ nước mắt, rập đầu, Mã Tri phủ biết là chuyện lạ liền đưa cả người và khỉ về nha môn mới vỡ lẽ được sự tình. Trong gian mật thất lúc này, thấy con chó trắng có hình dạng kì dị, lão đã hiểu được bí mật của hắn, liền giả vờ cất tiếng đe dọa, quả nhiên làm cho tên giặc phải sợ và phục xuống đất cung khai. Xem ra dẫu ngón nghề của bọn giặc có thiên biến vạn hóa bao nhiêu cũng không che mắt được kẻ già dặn ở chốn công môn, thật đúng là: “

Nước cờ đi trước đã giăng bẫy. Địch dẫu mưu mô cũng trắng tay.”
Lúc ấy, Bạch Tháp chân nhân đã bị cắt gân, thành một kẻ tàn phế, dẫu có bản lĩnh bằng trời cũng không cách nào thi triển được nữa. Hắn biết kiếp nạn này khó thoát, cực chẳng dã phải đem hết sự thật khai ra. Thân đã làm đến giáo chủ của Tháp giáo, một khi rơi vào tay quan phủ, biết số mình đã tận, chỉ mong thượng quan đem lòng nhân từ, đừng dùng thủ đoạn tra tấn tàn khốc. Hắn tự biết tội mình tày trời, chắc chắn phải chết không sai, nhưng mong được xem xét đến việc đã nói rõ nguồn gốc của Tháp giáo và tấm thân tu luyện vất vả mấy chục năm mà đừng động đến việc chặt chém, chỉ xin được chết toàn thây, kiếp sau dẫu phải làm trâu ngựa cũng không dám quên ơn.
Mã đại nhân càng nghe càng căm tức. Bọn thối tha này đã hoành hành gây họa cho người đời bao lâu nay, cứ tự cho rằng có thể ung dung ngoài vòng pháp luật, làm biết bao nhiêu việc ác, đến ngày bị bắt giải tới công đường, lộ rõ nguyên hình mới biết đến đường van vỉ xin tha, cái gì mà tự biết tội chết khó thoát. Muốn không phải chịu cực hình cũng được nhưng phải mau cung khai toàn bộ dư đảng của Tháp giáo, nếu có nửa lời man trá, nhất định sẽ không dung thứ cho đâu.
Naò ngờ Bạch Tháp chân nhân thà chết không khai ra những chuyện đó, Trương Tiểu Biện cùng Tôn Đại Ma Tử liền dùng kim dài chấm vào phân lỏng, hết cây này đến cay khác đâm vào những chỗ da thịt mềm khiến Bạch Tháp chân nhân đau quá, gào rú thảm thiết, mồm phun ra toàn lời nguyền rủa độc địa khôn cùng: ” Các ngươi là đồ chó diều của triều đình, chỉ quen trò cáo mượn oai hùm, dám cả gan đày đọa tấm pháp thân đắc đạo của bản chân nhân, ta nguyền rủa các ngươi, đứa nào cũng phải chết không yên… ”
Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử đều là kẻ sắt đá nhẫn tâm, lại rất ghét đám yêu tà Tạo Súc, thấy điệu bộ Bạch Tháp chân nhân hung hăng, cắn răng chịu tra tấn không chịu cung khai, cả hai càng nóng mắt, chửi rằng: “Tiên sư cha nhà mày, còn dám mở mồm nói cứng, để xem ông nội nhà mày chọc nát cái lưỡi rồi móc mắt mày ra thế nào.” Nói đoạn, dùng kim đâm vào không chút dung tình, tới mức tấm thân đội lốt chó của Bạch Tháp chân nhân không còn chỗ nào toàn vẹn, sau đó lại giơ kim định chọc vào lưỡi và mắt của hắn.
Mã đại nhân ở bên cạnh thấy rõ ràng, biết Bạch Tháp chân nhân tuy sợ bị tra khảo nhưng lại càng sợ việc cung khai ra đồng đảng, chứng tỏ đằng sau lưng hắn còn có những nhân vật cực kỳ lợi hại. Nếu cứ tiếp tục tra tấn ắt nó đau đớn mà chết mất, vì vậy, lão hạ lệnh cho tả hữu ngừng châm kim tẩm phân, hạ giọng thương nghị với đề đốc Đồ Hải vài câu. Đồ Hải cũng chẳng phải kẻ tử tế gì, lão nói với Mã đại nhân, chuyện này chớ truyền rộng ra ngoài, cứ kết liễu tính mạng của thằng này trong mật thất là tốt nhất, sau đó lão còn nghĩ ra được một cách hết sức hiểm độc nữa.

Mã đại nhân nghe xong, gật đầu đồng ý, rồi dặn Trương Tiểu Biện mấy câu, bảo hai người cứ theo ý của Đề đốc đại nhân mà kết liễu tính mạng của Bạch Tháp chân nhân, sau đó hủy thi thể, xóa tung tích. Đoạn, lão liền cùng Đồ Hải rời khỏi gian mật thất.
Trương Tiểu Biện đợi Mã đại nhân đi khỏi liền bảo Tôn Đại Ma Tử ra ngoài chuẩn bị mấy thứ cần thiết,. Trong gian mật thất chỉ còn lại một mình, hắn giương mắt nhìn Bạch Tháp chân nhân rồi ha hả cười lạnh lùng, chửi rằng: “Thằng cẩu tặc, giờ này năm sau là giỗ đầu của nhà ngươi rồi, Trương Tam Gia ta là người ngay không làm việc ám muội, trước khi ngươi chết cũng cần phải cho ngươi chết một cách rõ ràng, kẻo xuống đến Âm phủ phải làm con ma hồ đồ. Thằng hòa thượng Chuột trong Hòe Viên và con Thần Ngao trong Hoang Táng lĩnh đều chết trong tay của Tam Gia ta đây.”
Bạch Tháp chân nhân tuy biết mình chết chắc nhưng không bao giờ tưởng tượng nổi mình không sống được qua đêm, than rằng: “Trước đây, Phan hòa thượng bị bắt ba ngày mới trói giải ra chợ tùng xẻo, sao đêm nay đã giết ta luôn rồi?” Nói đoạn, hắn đổi giọng nghiến răng rít lên: ” Ta đã tung hoành thiên hạ mấy chục năm trời, chẳng ngờ rốt cuộc hồ đồ thế nào lại chết trong tay thằng tiểu tặc nhà ngươi, ta chết cũng không nhắm mắt được.”
Trước lúc bị hành hình, Bạch Tháp chân nhân không khỏi tim lạnh lòng run, càng nghĩ càng sợ, giọng điệu cũng nhũn đi, vật nài rằng: “Xin Trương Bài đầu niệm tình pháp thân của ta tu luyện chẳng dễ, hơn nữa hình hài xấu xí này đã trộm sống trên đời nhiều năm, hay là để ta được chết nhẹ nhàng một chút, giữ cho cái thây vẫn còn toàn vẹn.” Nói đoạn, nước mắt, nước mũi chảy ràn rụa, bảo với Trương Tiểu Biện ở chỗ đó, chỗ nọ có chôn một hộp “Kim Dương tiền”, chỉ cần toại nguyện cho hắn thì những thứ trong hộp tiền đó đều thuộc về họ Trương hắn cả.
Trương Tiểu Biện một mặt ngầm ghi nhớ địa điểm chôn dấu Kim Dương tiền, một mặt cất lời rằng: ” Chắc hẳn đống Kim Dương tiền đó đều là của bất nghĩa, Tam Gia đương nhiên sẽ tính sổ nhận về, chẳng lẽ còn phải khách sáo với loại cẩu tặc như nhà ngươi hay sao? Có điều, ngươi van nài với ta cũng vô ích thôi, mới rồi Đề đốc Đồ Hải đã dặn dò không thể để nhà ngươi chết sung sướng, mát mẻ được, chúng ta là công sai thì phải chịu sự sai khiến của quan trên, không thể tự quyết, chỉ e Trương Tam Gia này khó lòng mà chu toàn cho nhà ngươi. Nhiều nhất, chúng ta cũng chỉ có thể đến Tết Thanh minh hóa thêm chút ít tiền vàng cho ngươi mà thôi, âu cũng là để ngươi bớt chút khổ sở dưới chốn âm tào.”
Bạch Tháp chân nhân không ngờ Đồ Hải đã có lời dặn dò, trong lòng sợ run lên, nói: “Không rõ chúng định xử trí bản chân nhân thế nào? Định mổ bụng moi tim hay lăng trì tùng xẻo? Hay muốn dùng xe xé xác, chém ngang lưng?”
Lúc ấy, Tôn Đại Ma Tử đã quay về, trong tay cầm một cái ống gỗ, bên trong chứa toàn bong bong cá đang đun sôi sùng sục, ngoài ra còn mang theo hai mảnh bao gai đã bị cắt nát. Trương Tiểu Biện chỉ vào đó rồi nói: “Quan gia có lệnh, niệm tình ngươi van vỉ đáng thương, không nỡ dùng đến đao búa hành hình, chỉ cho ngươi nếm một trận “quấn gai tra, lột da hỏi”. Nghe nói năm xưa, lúc Nhạc Vũ Mục bị oan uổng, cũng phải chịu lối tra khảo này. Có điều, loại thối tha nhà ngươi tội ác ngập đầu, đúng là tự gây tội nghiệt thì đừng mong sống, nay sắp bị đạo trời tru diệt, sao có thể sánh ngang với Nhạc gia được, mau câm mồm lại mà nhận cái chết cho rồi.”

Bạch Tháp chân nhân có khí lượng hẹp hòi, hơn nữa xấu xí hèn đớn, biết phải chịu hình phạt ” quấn gai lột da “, hiểu rõ đây là một cực hình hết sức tàn khốc, lại nghe những lời vừa rồi, lập tức vừa nổi giận vừa kinh hãi, “ọe” một tiếng phun ra ngụm máu bầm, sặc sụa vài cái, điên cuồng chửi mắng: ” Ta ẩn mình trong phủ Đề đốc đã bao nhiêu lâu, chưa từng làm hại đến già trẻ lớn bé trong nhà, thế mà thằng cẩu quan Đồ Hải độc ác với ta như thế sao! Được rồi, các ngươi đã đem thủ đoạn độc địa như thế để hại tính mạnh của ta, bản chân nhân sau khi chết sẽ niệm huyết chú, toàn thành Linh Châu sẽ thây chất như núi, máu chảy thành song, người ngợm súc sinh đều chết hết!” Thật đúng là: “

Người đời cứ bảo trời xa; Ai hay báo ứng hóa ra nhãn tiền.” Muốn biết chuyện sau thế nào, xem hồi sau phân giải.
Hồi thứ 9: Nhạn Doanh
Lại nói Bạch Tháp chân nhân từng nấp trong chỗ kín đáo chính mắt nhìn thấy đao phủ Bộ hình lăng trì Phan hòa thượng ở giữa ngã tư đường, cứ tưởng cực hình tàn khốc đến thế là cùng cực. Chính vì vậy, khi sa vào tay quan phủ, hắn chỉ khẩn cầu được chết nhanh, xin đừng lóc thịt tùng xẻo, để hắn được chết cho toàn pháp thân. Một là, hắn sợ nỗi đau khổ khi bị xử cực hình; hai là, theo quan niệm mê tín của người thời bấy giờ, nếu trong đời người phạm phải tội lớn, bị xẻo thịt phanh thây thành vạn mảnh trên pháp trường thì kiếp sau không được làm người, chỉ có thể biến thành vô số những con dòi bọ, ruồi muỗi, mặc cho người đời tha hồ đánh đập, giẫm đạp, trầm luân vạn kiếp không cất đầu lên được.
Bạch Tháp chân nhân vốn là một nhân vật có tiếng tăm chấn động thiên hạ, chẳng ngờ qua khe lật thuyền, bị người ta không tốn chút hơi sức bắt sống, lại còn bị cắt gân, giày vò đủ kiểu. Biết là mình sắp ngậm hờn chết trong mật thất, hắn van vỉ vật nài bọn Mã Thiên Tích đừng dùng đao búa chặt chém, ý hắn là tốt nhất cho uống thuốc độc hoặc một sợi dây gai để thắt cổ chết.
Nhưng Mã đại nhân và Đề đốc Đồ Hải nọ đều là những kẻ nhẫn tâm độc địa, không dùng đến đao kiếm thì cũng không thể nhẹ tay dung thứ cho tên trọng phạm này, trên đời làm gì có chuyện dễ dàng như thế, nên mới dặn tả hữu dùng đến hình phạt ” quấn gai keo da cá”, sau đó mới rời khỏi mật thất, đi tuần thị bố phòng trong thành.
Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử nhận lệnh phải đích thân kết liễu tính mạng của tên ác tặc, liền dùng dao cạo sạch lông trên khắp mình Bạch Tháp chân nhân, sau đó đem miếng bao gai cắt thành từng sợi mảnh, nhúng từng sợi vào keo đang sôi rồi nhân lúc còn nóng, dán lên người hắn. Trong phút chốc, từ đầu đến chân tên ác tặc đã dính đầy hàng trăm mảnh bao gai vụn.
Lúc đó, Bạch Tháp chân nhân đã khiếp hãi tới mức toàn thân run lên cầm cập, cứt đái vãi tung tóe, muốn cứng cũng không cứng nổi nữa, đành phải nhất loạt cung khai hết nới ẩn nấp của dư đảng, không dám giấu giếm mảy may, chỉ cầu xin nới tay để hắn được chết mát mẻ một chút.
Tôn Đại Ma Tử mắng rằng: ” Ta xem đám giặc dòi bọ các ngươi thật chẳng đáng mặt tí nào, quả nhiên giống hệt thằng hòa thượng Chuột, trong người không có lấy một chút khí khái anh hung, dưới tay đã hại chết biết bao nhiêu sinh mạng, phạm tội tày trời như thế mà cũng chỉ đền bằng một cái mạng nhà ngươi, cho dù lăng trì muôn mảnh cũng là dễ dãi cho ngươi lắm rồi. Hôm nay phải chết thì cứ thẳng thắn vươn cổ ra mà chịu chết là được rồi, sao lại có những cử chỉ đê hèn như thế.”

Trương Tiểu Biện cũng đứng cạnh cười mỉa rằng: ” Pháp thân của chân nhân tuy tôn quý nhưng cực hình quấn gai lột da này lại khá khó chịu, không được để cho chết ngay. Chúng tôi không phải là những đao phủ tinh thông ngón nghề, hôm nay lần đầu tiên làm việc này, xuống tay không khỏi có chỗ vụng về, nặng nhẹ thế nào cũng mong chân nhân lượng thứ cho.”
Bạch Tháp chân nhân căm hận đến độ cắn vỡ cả răng, rít lên với Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử: ” Các ngươi khinh người quá lắm, bản chân nhân có thành ma quỷ cũng không quên được mối hận ngày hôm nay. Hai thằng tiểu tặc nhà ngươi tưởng mình là ai kia chứ? Đều chỉ là phường chó diều của bọn triều đình, con bà các ngươi, các ngươi có biết vì sao càng bắt bớ thì giặc giã càng nhiều, tiễu trừ không hết không? Vì quan lại và giặc cướp là một, mèo chuột một phường thôi, thằng bắt cướp cũng đều là cướp cả, chẳng qua được làm vua, thua làm giặc thôi. Các ngươi dùng thủ đoạn tàn độc này để hại pháp thân đắc đaọ cuả bản chân nhân, đến tối còn mong được ngủ yên sao?”
Trương Tiểu Biện nghe Bạch Tháp chân nhân càng nói càng oán độc, liền chửi rằng: “Câm mõm! Bọn ông hôm nay thay trời hành đạo, đưa thằng cẩu tặc nhà ngươi lên đường, mau nhân lúc còn sớm sửa, đến Uổng Tử Thành ở Phong Đô dưới Âm ty mà báo tên đi!” Nói đoạn, hắn cũng Tôn Đại Ma Tử cúi xuống, phồng mang trợn má liên tiếp thổi hơi lạnh vào mình mẩy của Bạch Tháp chân nhân.
Vốn là cực hình ” quấn gai lột da” không được đưa vào chính điển, chỉ là một hình thức tra khảo tàn khốc được lưu truyền từ thời Nam Tống, về sau cũng nhiều lần được sử dụng để hành quyết tù phạm. Đầu tiên, đao phủ dùng dải gai tẩm keo nóng, dán vào da thịt trên cơ thể trần truồng của phạm nhân, keo bong bóng cá rất dính, dính chặt tới mức không thể bóc da được. Đợi tới khi chúng se mặt, đao phủ mới kéo đầu dải gai, rút một cái lôi theo cả mảng da lẫn thịt, vì vậy mới có tên là “quấn gai tra, lột da hỏi”. Dẫu là hảo hán mình đồng da sắt cũng không chịu nổi loại độc hình này, thế nên mới có câu rằng: “

Khiến cho hảo hán mất hồn; Dẫu là cứng cỏi cũng còn thất kinh.”

Toàn thân Bạch Tháp chân nhân đã quấn đầy dải gai, Trương Tiểu Biện và Tôn Đại Ma Tử thi nhau thổi từng luồng hơi vào cơ thể hắn. Thấy lớp keo bong bóng cá đã se nguội, ước chừng có thể hành hình được rồi, cả hai liền thử túm chặt một miếng vải gai trên lưng Bạch Tháp chân nhân rồi mắm môi mắm lợi kéo ngược ra, chỉ nghe “soạt” một tiếng, một miếng cả da lẫn thịt đã bị lột tung ra, những tia máu bắn vọt xuống đất. Bạch Tháp chân nhân đau đớn quá, rú lên như lợn bị chọc tiết, gào thét kêu trời kêu đất.

Tuy trên người Bạch Tháp chân nhân có đội một lớp da chó nhưng trải mấy chục năm, lớp da đó đã gắn chặt với da thịt trên người làm một, không thể gỡ ra được nữa, khi bị rút dây gai tẩm keo thì cả một mảng thịt cũng bị xé toạc ra theo. Hắn đau như cắt ruột, tự biết nếu chết như vậy thì thật quá thảm khốc, vội cất tiếng một lần nữa xin tha mạng nhưng trong cơn đau đớn dữ dội, miệng lưỡi dường như không còn nghe theo sự sai khiến.

Trương Tiểu Biện cầm miếng vải gai vừa giật ra giơ lên xem, quả nhiên là dính cả da lẫn thịt, rồi thuận tay quẳng sang một bên, hắn không để cho Bạch Tháp chân nhân kịp nói điều gì, đột nhiên nghĩ ra một câu chế giễu, giả bộ ngạc nhiên mà rằng: “Ôi!… Tam Gia ta dường như nghe thấy tiếng trống, tiếng nhạc ồn ã trên không trung, chắc hẳn là thần tiên đã mở cổng lớn để chuẩn bị đón chân nhân về trời, chuyện tốt như thế thì chớ nên chậm trễ.” Nói đoạn, hắn lại cùng Tôn Đại Ma Tử nhất tề động thủ, giật toạc từng miếng vải gai, mới rút được một nửa thì Bạch Tháp chân nhân đã đau đớn mà chết cứng.

Sau khi hành hình, trong gian mật thất vương vãi máu thịt khắp nơi, nhìn kĩ thì đúng là có một bộ xương người dị dạng trong tấm da chó. Trương Tiểu Biện mời viên quản gia trong phủ đến nghiệm hình rồi mới nổi một đống lửa để đốt thây xóa vết, còn lại những chuyện quan phủ chiếu theo khẩu cung, ngầm bố trí tróc nã dư đảng Tháp giáo ngoài vòng pháp luật như thế nào thì khỏi phải cần nói thêm. Việc yêu đạo ẩn náu trong phủ Đề đốc đương nhiên không thể nói rộng ra ngoài, chỉ có điều cả nhà trên dưới đều phải chịu nhiều sợ hãi, định bụng đợi đánh lui Việt khấu sẽ mời gánh hát tới diễn mấy vở kiểu “Tam anh chiến Lã Bố”, “Uất Trì Cung một roi đoạt giáo”, “Qua năm ải chém sáu tướng” có lời tuồng diễn võ trấn trạch, những chuyện đó cũng không cần phải nói.

Lời tác giả
: Đáng thương thay Bạch Tháp chân nhân, khổ tu nhiều năm trong núi, đã luyện được một thân dị thuật, thế mà cuối cùng lại có kết cục như thế, chết thảm khốc không sao kể xiết, chẳng còn cách nào khác, chỉ có thể nói rằng:

” Khuyên người ấy chớ làm điều ác; Ba thước trên vai có thánh thần; Làm ác mà trời không báo ứng; Hóa ra người mất hết nhân luân.”
Đại để cũng chỉ vì Bạch Tháp chân nhân làm việc ác quá nhiều, kiếp số đã hết, ông trời muốn lấy tính mạng của hắn nên tự nhiên khó lòng thoát chết. Về tình về lý thì như thế, tuy là nói vậy, nhưng người này cũng là đầu sỏ của Tháp giáo, quan phủ truy bắt mấy chục năm trời mà không tìm được tung tích, ngoài thủ đoạn giỏi lẩn trốn ra, hắn còn biết rất nhiều tà thuật của phái Tạo Súc, ngoài ra lại còn có con Thần Ngao ở Hoang Táng lĩnh và Phan hòa thượng chuyên ăn thịt trẻ con trong thành Đũa bên dưới Hòe viên. Đám yêu nhân ác thú này nào dễ đối phó? Thế mà sao bản lĩnh tày trời của chúng không thể thi triển được một chút nào, trái lại tất cả đều phải chết trong tay của Trương Tiểu Biện?
Cứ xem Trương Tiểu Biện cũng chỉ học được một chút thuật xem tướng mèo không đầu không đũa, làm sao có thể chỉ nhờ vào ăn may, thấy đâu làm đấy, mà vừa giơ tay cất chân đã diệt trừ hết thảy đám gian tà ác thú đó được? Suy cho cùng vẫn là nhờ vào lời chỉ dẫn ngầm của Lâm Trung Lão Qủy.
Lão già ấy đã không nói thì thôi, chứ nói ra thì đề linh nghiệm như thần, phá giải được rất nhiều huyền cơ, chỉ cần làm theo sự sắp đặt của lão thì việc nhất định sẽ tốt đẹp.
Trương Tiểu Biện cứ cho rằng thời vận của mình đã đến, mộ tổ nhà mình chắc đang mọc thêm một tấm bia “Tiến phúc” vô hình, chỉ trong sớm muộn sẽ được mở mày mở mặt, nên mới có quý nhân phù trợ như thế. Được Lâm Trung Lão Qủy chỉ rõ bến mê, chẳng bao lâu nữa, Trương Tam Gia nhà hắn sẽ được đội mũ cao, mặc áo cừu, cưỡi ngựa béo, chỉ huy vạn quân ruổi thẳng đến núi non, uy phong và vinh quang nào ai sánh bằng? Hắn đâu hiểu được rằng, quan trường trầm luân, thực là một bể khổ không bờ bến, nào được tiêu dao tự tại, chòm hoa linh đỏ cài trên mũ ấy đã nhuốm không biết bao nhiêu máu tươi.

Trên đời này làm gì cõ chuyện dễ dàng đến thế, thường có câu rằng:

” Tưởng ngon xơi mà xơi được đâu”, hung thần, mầm họa đã sớm ẩn tàng trong đó, chỉ có điều chưa đến lúc Trương Tam Gia hắn phải trả giá đấy thôi, muốn hỏi “Muối vì sao mặn? Dấm vì sao chua?” thì phải biết lai lịch của Lâm Trung Lão Qủy trong mộ Kim Quan đó như thế nào? Rốt cuộc lão trợ giúp Trương Tiểu Biện là có âm mưu gì?

Đừng bảo chỉ riêng mình Trương Tiểu Biện bị che mắt, ngay cả Bạch Tháp chân nhân, hòa thượng Chuột và Thát tử khuyển, những kẻ yêu nhân ác thú đã phải trả giá bằng cả tính mạng, cũng đều phải chết mơ hồ, không minh bạch. Chỉ e rằng, bọn chúng dẫu cho đã đến cầu Nại Hà, bước vào thành Uổng Tử cũng không biết rằng mình đã chết vì mưu kế của Lâm Trung Lão Qủy.

Còn về Lâm Trung Lão Qủy, đó là những chuyện về sau, dần dà sẽ rõ, bây giờ tạm thời không bàn đến, lại nói về thời thế ngày nay, thù trong giặc ngoài, đạo tặc thảo khấu nhiều như lông bò. Thành Linh Châu tuy quân nhiều lương đủ nhưng đang bị Việt khấu ùn ùn kéo tới vây khốn, trải qua mấy trận ác chiến, lòng người đều lo sợ. Chuyện Trương Tiểu Biện tiễu trừ yêu tà Tháp giáo tuy làm rất bí mật, song thiên hạ này đúng là tai vách mạch rừng, chẳng quá dăm hôm cả thành đều biết cả, tiếng tăm của hắn liền nổi như cồn khắp trong ngoài.

Tiếng lành đồn xa, đồn đi đồn lại, ai nấy đều cho rằng Trương Bài đầu là một nhân vật có bản lĩnh cao cường, mỗi lần trông thấy hắn đều gọi là Bài Đầu trưởng, Bài đầu phó này nọ, cứu như xưng hô với mấy vị viên ngoại giàu có không bằng. Hắn được mọi người hết sức kính trọng, ngày thường ra ngoài uống trà xơi rượu, các hàng quán đều không dám nhận tiền.

Trương Tiểu Biện tự lấy làm đắc ý đến mức đi đường cũng sắp quên nên bước chân nào trước. Hắn nhớ công ơn của Lâm Trung Lão Qủy nhưng vất vả tìm kiếm mãi mà không được. Hắn lại nhớ đến bầy mèo hoang thành Linh Chấu đã nhiều lần giúp mình, nên cũng hay mua chút đầu cá, thịt luộc, mang đến Miêu Tiên từ thết đãi chúng. Chính vì vậy, trong toàn thành Linh Châu, từ người đến mèo đều hết sức ghi nhớ công ơn của hắn, đặc biệt là những con mèo nhà, mèo hoang được hắn nuông cho ăn thành quen nên đeo bám hắn khắp nơi như hình vs bóng, kêu là đến, gọi là đi.

Một hôm nọ, Mã đại nhân điểm lính dõng Linh Châu trên mặt thành rồi gọi Trương Tiểu Biện đến. Lão khen Trương Bài đầu có tài nghệ phi phàm, đừng tưởng trẻ người non dạ, thực ra từ xưa hậu sinh khả úy, mới nhẹ cất tay là trừ sạch yêu nghiệt Tháp giáo đã cát cứ trong thành Linh Châu nhiều năm, bản quan và Đề đốc Đồ Hải rất hài lòng. Người như thế này mà để trong đám Bổ khoái ở Nha môn thì khác nào giết gà dùng dao mổ trâu, vì vậy phá lệ tiến cử, điều chuyển vào trong quân để ra sức vì triều đình, có như thế thì toàn bộ bản lĩnh chân thực mới có cơ hội thi triển, từ hôm nay sẽ điều đến làm doanh quan trong quân Đoàn luyện, cai quản một doanh lính dõng.

Vào thời ấy, quân Bát kỳ người Mãn và quân Lục doanh người Hán đã nhiều năm không chinh chiến, quân kỷ lỏng lẻo, sĩ tốt bê trễ, không còn tinh nhuệ như hồi hoành hành thiên hạ năm xưa, khó lòng đối phó được với chiến sự có quy mô lớn. Chỉ có mỗi đội quân Mông Cổ do Tăng Cách Lâm Tẩm chỉ huy là còn đủ khả năng Nam chinh Bắc chiến, ngoài việc phòng vệ vùng hiểm yếu của kinh kỳ còn phải điều đi các nơi trấn áp khởi nghĩa nông dân. Lúc đó, triều đình hỗn loạn, thiên hạ chao đảo không yên, đội người ngựa ấy tuy tinh nhuệ nhưng dập được phương Đông thì phương Tây lại nổi loạn nên vô cùng mệt mỏi, hơn nữa đại quân trấn giữ kinh thành thì không thể dễ dàng điều động được, triều đình phải lệnh cho các địa phương tự tổ chức dân quân. Đội dân quân đông đảo của thành Linh Châu phần lớn là quân chiêu mộ tại địa phương nên khó tránh được cảnh rồng rắn hỗn tạp, có khá nhiều thành phần thảo khấu, đạo tặc được chiêu an về, trong đó có một doanh quân gọi là “Nhạn doanh”. Trong doanh này đều là thợ săn nhạn đồng hương, đồng tộc xuất thân, hết sức kiêu dũng thiện chiến, dẫu xung phong hãm trận thì vẫn bình thản như không. Song, ở đời chum vò vỡ miệng giếng, tướng quân chết trận tiền, trong trận huyết chiến giữ thành chống địch mấy hôm trước, viên doanh quan của Nhạn doanh bị một viên đạn của Việt khấu xuyên vào não mà chết, chính vì vậy, chức vụ trưởng quan trong doanh tạm thời vẫn khuyết một chỗ.

Mã đại nhân biết rằng sĩ tốt của Nhạn doanh rất hung hăng, lại đều xuất thân từ đám thảo khấu giang hồ, quan quân khó lòng khống chế, chỉ e chúng làm loạn, chính vì vậy lão định bụng phái một người tâm phúc để thống lĩnh doanh này. Còn Đề đốc Đồ Hải lại cho rằng lính dõng Nhạn doanh đều là phường kẻ cướp, nhiều lần gây náo loạn trong thành, có ý đồ giết quan lại để tạo phản, không thể giữ lại được, giữ lại sẽ trở thành đại họa, nên mau chóng tìm cách phế bỏ doanh này đi. Hai bên tranh cãi không thôi, cuối cùng Đồ Hải đề nghị để Trương Tiểu Biện chỉ huy Nhạn doanh, ngoài mặt là có ý đề bạt hắn, kỳ thực lão dụng tâm hiểm độc, sắp xếp như thế là có ý đẩy hắn một đi Nhạn doanh sẽ không trở lại. Nào ngờ đâu, vì chuyện này nên mới dẫn đến một trường ác chiến, chém giết đến mức long trời lở đất, nhật nguyệt lu mờ. Thế mới có câu rằng:

“Thiên binh vạn mã ào ào; Máu đầy khe rãnh thây cao mặt thành.”
Quyển này đến đây là hết, muốn biết chuyện sau thế nào, xem quyển thứ năm “Nhạn doanh” của bộ Tặc Miêu sẽ rõ.

Rate this post

Related Posts

About The Author