[Truyện Ma Voz Dài Kỳ] Tặc miêu – Quyển 6

TẶC MIÊU QUYỂN 6
TIỆT YÊU TỰ
Hồi thứ 1: Trường diện la hán
Trên đời, ngươi ta thường bảo nhau câu: “Quá tam ba bận”. Lần thứ ba, trong Miêu Tiên tử, Trương Tiểu Biện gặp lại Lâm Trung Lão Quỷ, cảnh ngộ lần này khác hẳn hai lần trước. Lão Quỷ nọ nói thẳng rằng: “Trương Tam gia sắp gặp phải họa sát thân, lúc ấy thì tính mệnh khó mà giữ được.”
Hơn một năm nay, Trương Tiểu Biện theo quân chinh chiến, cùng Nhạn doanh tiễu trừ Tháp giáo, đánh với quân Thái Bình nên kiến thức rộng rãi, gặp sự biến thì không hoảng hốt, run rẩy như trước nữa. Nhưng để có được ngày hôm nay, hắn toàn dựa vào lời mách bảo của Lâm Trung Lão Quỷ. Tự nhiên hắn cũng biết người này thấu hiểu lẽ quỷ thần, không nói thì thôi, chứ hễ nói là đúng, hôm nay, thấy lão nói như thế, hắn nào dám không tin.
Trương Tiểu Biện thầm tính toán trong đầu: “Hồi trước, lão già nhà ngươi chẳng phải chính mồm hứa hẹn, nếu Trương Tam gia ta gặp phải chuyện khó khăn gì thì người ắt sẽ đến giúp đỡ, nay sao lại nuốt lời?” Hắn vội vã nói với Lâm Trung Lão Quỷ rằng: “Hồi trước tiểu tử nghèo khổ, đường sinh nhai khó khăn, may được lão tiên sinh không chê, năm lần bảy lượt chỉ điểm bến mè, nếu không đã thành mồi cho chó hoang, đến xương cốt cũng chẳng còn rồi. Chỉ mong lão gia đã thương thì thương cho chót, đưa Phật thì đưa đến Tây phương, một lần nữa mách bảo cho tiểu tử này một con đường sống. Đại ân đại đức này xin nguyện ghi nhớ cả đời.”
Lâm Trung Lão Quỷ tựa như một xác chết, im lặng một lúc lâu rồi mới chầm chặm mở miệng nói: “Lão phu đã nói từ trước, xem ra khí sắc của Trương Tam gia rất tốt, chủ về việc đại phú đại quý, nên mới có ý ngầm giúp đỡ nhà ngươi. Nhưng cũng cần phải biết, trời có đức hiếu sinh. Nhạn doanh của nhà ngươi giết người quá nhiều, đã bị sao dữ chiếu vào, vì vậy số phận đã định một phen kiếp nạn, nhưng chỉ cần tránh được tai kiếp này thì con đường tiến thân của nhà ngươi sẽ không còn trở ngại gì nữa, công danh lợi lộc không cần cầu mà tự đến, quét đất cũng ra vàng. Tuy nhiên, kiếp nạn trời đất giăng sẵn này thì đến thần tiên cũng không cứu được, chỉ e khó tránh, cho dù có đến nghìn mạng thì nhà ngươi cũng phải chết.”
Trương Tiểu Biện cả kinh thất sắc, ú ớ quỳ xuống, nước mắt lưng tròng, khẩn cầu Lâm Trung Lão Quỷ thần thông cứu mạng. Trương Tam gia mười mấy năm nay nghèo khổ khốn khó, một ngày dài như một năm, phải trải qua bao nhiêu nước lửa, khó khăn lắm mới được vẻ vang mặt mày một chút, nhưng vẫn còn chưa được hưởng thụ yên ổn, nay nếu ông trời cướp đi tính mạng thì thật là: “Sớm biết vinh hoa đã định sẵn; Cần gì lúc trước uổng tâm cơ.”
Lâm Trung Lão Quỷ nói: “Tạm thời người chớ kinh hãi, lão phu hồi trước đã hứa sẽ chu toàn cho nhà ngươi một đời vinh hoa phú quý. Nay nhà ngươi gặp phải đại họa sắp giáng xuống, đương nhiên lão phu không thể khoanh tay đứng nhìn được. Cổ nhân nói, vật thì biến hóa một lần, người thì biến hóa nghìn lần, nếu không có biến thì trừ phi là người chết. Chỉ cần Trương Tam gia nhà người làm theo lời của lão phu thì dẫu cho trời tru hay đất diệt thì đều có thể yên ổn như thường, đảm bảo không sơ sẩy chút gì.”

Lâm Trung Lão Quỷ nói xong liền chọn trong đám mèo hoang đông đảo ra một con mèo khoang to, đồng thời, lấy từ trong bọc ra một ống tre sơn đen bịt kín, giao lại cho Trương Tiểu Biện rồi hỏi: “Ngươi có biết con mèo này không?”
Trương Tiểu Biện cũng không rõ Lâm Trung Lão Quỷ có dụng ý gì, nhưng vẫn nhìn vào con mèo khoang to nọ. Chỉ thấy, toàn thân nó vằn vện như gấm thêu, đầu óc đờ đẫn, trông rất ngu si, hơn nữa, long dài, vuốt ngắn, mặt mèo rất lạ; trên trán có nếp nhăn như chữ “phong”. Trương Tiểu Biện đã học qua Miêu phổ, Miêu kinh trong “Vân vật thông tải”, làm sao không biết, liền đáp rằng: “Theo thuật xem tướng mèo, đây là con Trường diện La Hán, hình như là một con mèo câm xưa nay không biết mở mồm kêu.”
Lâm Trung Lão Quỷ gật đầu bảo: “Con mèo này quả đúng là Trường diện La Hán, sinh ra đã có tính Phật, tai của Kim Đồng, eo của Ngọc nữ, có lưng của người tiên, tuy thuần phác như khúc gỗ nhưng không phải là một con mèo câm không biết kêu. Chỉ do bọn dân đen không biết gì, cho rằng loại mèo này hay hại chủ, là sao dữ giáng họa, hung thần gieo ác, đi tới đâu là tai ương xuất hiện, kỳ thực ra, nó có thể báo trước điềm dữ, hễ mở miệng là chủ về việc bất thường, vì vậy không bao giờ tùy tiện mở mồm. Từ hôm nay trở đi, lúc nào ngươi cũng phải mang nó theo người như hình với bóng, nửa bước cũng không được rời, hễ nghe thấy con Trường diện La Hán mở mồm tức là báo hiệu số kiếp của nguời đã đến, lúc đó, ngươi phải lập tức mở ống tre này ra. Trong ống tre có phép thuật vãn hồi số trời, nhất thiết phải làm theo chỉ dẫn trong đó, không được chậm trễ chút nào, nếu không Trương Tam gia ngươi ắt phải chết không sai.”
Lâm Trung Lão Quỷ lại bảo Trương Tiểu Biện rằng “Nhật nguyệt có lúc đầy, vơi; tinh tú có lúc lu mờ, con người ta sao chẳng có khí hung, khi suy? Lão phu tuy hiểu rõ lý lẽ đó, thấy được điềm dữ đã hiện trước mắt nhưng cơ trời vi diệu, ý trời khó lường, không thể nói cho rõ kiếp nạn của nhà ngươi rốt cuộc khi nào mới tới và tới bằng cách nào. Chính vì vậy, mới lưu lại một kế sách cứu vãn trong ống tre. Tất cả những gì lão phu có thể giúp ngươi chỉ có thế mà thôi, còn việc có giữ được tính mạng hay không thì còn phải trông chờ vào vận mệnh của Trương Tam gia nhà ngươi nữa. Duyên phận giữa hai ta đến đây đã hết, chúng ta vĩnh biệt từ hôm nay, sẽ không bao giờ gặp lại nữa. Cái gọi là gặp gỡ quá muộn, chia tay quá sớm là thế. Tam gia ngươi khá giữ lấy thân” Nói đoạn, lão phơi phới ra đi, trong chớp mắt đã khuất khỏi ngõ Miêu Nhi rồi không biết đi đâu nữa.
Trương Tiểu Biện nghe không sót một lời, chuyện này thực khiến người ta phải rùng mình kinh hãi, hắn tự biết kiếp nạn lần này vô cùng ghê gớm, chỉ e không tránh nổi. Hắn lo lắng không yên, một lúc lâu sau mới sực tỉnh lại, cúi đầu nhìn con Trường diện La Hán đang nằm phục trước mặt, trong tay vẫn còn nắm chặt ống tre niêm phong kín, bên ngoài đen kịt, lắc bên trong có tiếng như tiếng đồng, tựa hồ đang đựng mấy thứ gì nhỏ nhỏ bằng kim loại. Đến lúc ấy, hắn mới biết những chuyện vừa rồi là sự thật chứ không phải mộng Nam Kha. Hắn vội vã vái theo phương hướng Lâm Trung Lão Quỷ vừa bỏ đi, trong lòng trống rỗng như thể mất mát gì đó.
Trương Tiểu Biện nhớ lại những chuyện hiểm nguy, ly kỳ từng trải qua: gặp tiên trong mộ Kim quan, đào cương thi ở Ứng Trúng sơn, đổi mèo trong hiệu thuốc Tùng Hạc đường, đào của trong Hòe viên, gặp hòa thượng Chuột trong thành Đũa, giết con thái tử khuyển ở Hoang Táng lĩnh, mò Phong Vũ chung bằng đồng dưới đấy giếng cổ, bắt Bạch Tháp chân nhân trong phủ Đề đốc, đại phá Việt khấu ở Hoàng Thiên Đàng, tính ra thì tất cả không chuyên nào là không có can hệ với Lâm Trung Lão Quỷ.

Tục ngữ có câu rằng: “Cười người đau khổ bao nhiêu kẻ; Chia sẽ đau buồn được mấy ai.” Những kẻ lạnh lùng trước tai họa của người khác, trên thế gian này muốn bao nhiêu cũng có nhưng hễ anh có gì khó khăn, muốn tìm một người giúp đỡ trong thời khắc quan trọng, thì không tìm đâu ra được một người. Số Trương Tam gia hắn gặp được Lâm Trung Lão Quỷ tương trợ, đã là phúc phận lắm rồi, có câu là: “Thần long, thấy đầu không thấy đuôi”, hành tung của những bậc kỳ nhân dị sĩ cũng giống như thế.
Trương Tiểu Biện nghĩ ngợi lung tung một hồi, cẩn thận nhẩm lại mấy lượt những lời cuối cùng của Lâm Trung Lão Quỷ, tuy không nắm được chỗ yếu lỉnh bên trong nhưng cũng biết rằng, đã là phúc thì không phải họa, đã là họa thì trốn không được. Hắn mặc lòng gác qua một bên, lúc lắc cái ống tre, ôm con mèo La Hán rồi về thẳng trong doanh.
Suốt mấy ngày sau đó, Trương Tiểu Biện chỉ quanh quẩn trong doanh, canh con mèo Trường diện La Hán. Một người một mèo, hết sáng đến tối, nửa bước không rời. Hắn không biết rốt cuộc tai họa sẽ đến từ đâu, cả ngày đề phòng, cảnh giác, chỉ sợ con mèo này đột nhiên mở miệng khiến hắn trở tay không kịp. Mặc dù vậy, con mèo vẫn như ngày thường, trước sau chẳng thấy có biểu hiện nào quái dị.
Một đêm nọ, Trương Tiểu Biện đang ngồi dựa trên một cái kỷ trong doanh, con mèo Trường diện La Hán nằm phục trên cái ản ở trước mặt, lim dim ngủ, đột nhiên có hịch truyền tới gấp rút như nước sôi lửa bỏng. Thì ra quan quân và Việt khẩu đang kịch chiến ở Lôi Châu, trên phái người điều động quân Linh Châu tới cứu viện, tiếp được lệnh thì canh một phải đánh trống tụ quân, canh hai phải điểm tướng xuất thành, nửa khắc cũng không được chậm trễ.
Quân lệnh như sơn, Trương Tiểu Biện đương nhiên không dám chống, hơn nữa hắn cũng thầm tính rằng, cứ khổ sở chờ đợi kiếp nạn ập đến thì nóng ruột vô cùng, nếu số phận Tam gia đúng là có hạn lớn thì tránh được một lần chứ không thể tránh mãi được, nấp được sấm sét chứ sao nấp được Thiên lôi, có điều, người đi thì sống, cây dời thì chết, chẳng bằng theo quân mà đi, tùy cơ ứng biến. Hắn lập tức cùng bọn Nhạn Bài Lý Tứ tụ tập lính dõng toàn doanh, thu thập đồ đạc, nai nịt gọn gang, bày thứ tự đâu đấy rồi xuất quân, canh hai rời khỏi thành Linh Châu, men theo đường cái quan đi về phía Tây.
Lính dõng Nhạn doanh vừa đủ hai nghìn người, có nòng cốt là thợ săn nhạn, ngoài ra cũng có rất nhiều kẻ lục lâm, mãi lộ gia nhập. Nếu luận về việc xung trận chém giết thì Nhạn doanh đứng đầu trong các doanh ở Linh Châu, nhưng càng lập nhiều công lao đáng ra càng đưỡc phong thưởng thì đều bị lão Đồ Hải, tên tham quan khi quân phạm thượng, ngồi mát ăn bát vàng chiếm hết. Thật đúng là ngao cò tranh đấu, rốt cuộc chỉ có ngư ông đắc lợi.
Bọn Trương Tiểu Biện và Nhạn Bài Lý Tứ thấy chiến sự phải tham dự càng lúc càng lớn, hiểu rằng các huynh đệ đều phải vào sinh ra tử trước trận tiền, nhưng đến khi luận công phong thưởng thì chẳng có gì, trong lòng đều có ý phẩn nộ khôn nguôi. Thậm chí, cả bọn đã từng tính sẽ tiếp tục lên núi hành nghề lạc thảo, song trong thời buổi điêu linh này, đến cánh mãi lộ giết người cướp của cũng chẳng còn chỗ nào để mà lấy của nhà giàu chia cho người nghèo nữa, đám sơn tặc nhiều ngày không làm ăn được gì, rốt cuộc cũng có người phải chết đói, chẳng ứng mộ làm lính ăn lương thì chẳng còn đường sinh nhai nào nữa.

Lúc ấy, Nhạn doanh vừa mới được về thành dưỡng sức thì lại phải phụng mệnh đến thẳng Lôi Châu chi viện, người vào căn nhà thấp sao tránh khỏi cúi đầu? Quân lệnh đến như nước sôi lửa bỏng, cả doanh đành vội vội vàng vàng đi ngay, chẳng cần biết đã là canh bốn hay canh năm, tới khi trời sáng hẳn, Nhạn doanh đã đến một vùng núi chắn trước mặt, nhìn kỹ thì đó là một dãy núi nhấp nhô kéo dài, quả là:
Tôi xin nộp mạng để đền nợ thân.
Núi non nghìn trượng chọc lưng trời;
Ngọn thác buông rèm trăm thước rơi.
Vách dựng lô nhô trưng lắm vẻ;
Đá bày lổn nhổn lối thưa người ;
Bóng râm rậm rạp hùm beo nấp;
Khe vực cheo leo mặt rụng rời;
Đầy đất cỏ hoang, hoa dại nở;
Chắn đường gai góc, bụi mây vùi.
Nhạn Bài Lý Tứ cưỡi trên lưng ngựa, khum tay che, ngước mắt nhìn một lúc lâu rồi giơ roi chỉ vào định núi phía trước mặt, nói với Trương Tiểu Biện rằng: “Xem thế núi này quả nhiên là hùng vĩ, không biết chúng ta đã đi đến đâu rồi?”
Trương Tiểu Biện trong lòng đang rối bời, đột nhiên bị người khác hỏi, sực tỉnh, vội ngẩng lên nhìn, phát hiện ra nơi đây cách mộ Kim quan không xa lắm. Hắn biết rõ vùng núi non này liền đáp: “Nơi đây gọi là Thanh Loa lĩnh, hiểm trở khác thường, chỉ cần đi qua vùng núi này là ra khỏi địa phận Linh Châu. Muốn đi Lôi Châu, chỉ còn cách men theo đường núi mà đi qua, bằng không huynh đệ chúng ta sẽ phải đi vòng, tốn thêm một ngày đường nữa.” Nhạn Bài Lý Tứ nói: “Các anh em đã đi trọn một đêm, tội gì phải đi vòng vèo. Nếu đã như thế, chúng ta đi xuyên qua là được.” Đoạn, gã dẫn cả đội quân tiến vào trong núi.
Các dãy núi trong Thanh Loa lĩnh quanh co, khuất khúc, ở giữa ôm lấy một vùng thung lũng, từ xưa đã có một thị trấn nhỏ ở đấy, gọi là “Thanh Loa trấn”. Binh lính Nhạn doanh theo đường đèo, vượt qua một đỉnh núi, nhìn xa xa thấy sâu trong hõm núi là cả một vùng tùng bách xanh rì, cổ thụ uốn lượn, trong tán cây che phủ có thấp thoáng màu gạch xanh, ngói biếc, nhà cửa san sát, đúng là dáng dấp của một thị trấn cổ.
Nhạn doanh vốn định tránh Thanh Loa trấn để trực tiếp băng qua Thanh Loa lĩnh, nhưng thời tiết trong núi biến đổi nhanh như gương mặt con trẻ, bảo biến là biến ngay. Chỉ thấy gió mát nổi lên, trong chớp mắt mây đen kéo đến, đất trời mù mụt, trong tầng mây, sấm sét ngoằn ngoèo báo hiệu một cơn mưa to sắp ập xuống. Nhạn Linh Nhi nói với Trương Tiểu Biện rằng: “Nghe tiếng sấm động có vẻ dữ dội, xem ra trận mưa sắp tới không nhỏ, đường núi gặp cơn mưa sẽ rất trơn, khó đi, chỉ e xảy ra chuyện ngoài ý muốn. Toàn doanh chúng ta đã đi trọn một đêm, đều đã thấm mệt cả rồi, chi bằng cứ vào Thanh Loa trấn nghỉ ngơi chút đã, đợi cơn mưa ngừng thì hành quân tiếp cũng không muộn.”
Trương Tiểu Biện cũng đang có ý đó. Hắn trước nay quen thói du đãng, lười nhác, thấy quân tình tuy khẩn cấp nhưng bản tâm vẫn chỉ muốn quay về bẩm báo rằng: “Trên đường gặp mưa lớn khó tiến quân” là được, nay nhân lời của Nhạn Linh Nhi, hắn nói: “Lời muội tử rất đúng, thật là một trang nữ nhân mưu trí hơn cả nam giới.” Đoạn, hắn bảo tả hữu rằng: “Các anh em bây giờ hãy theo Tam gia ta vào trong trấn nghỉ chân đã.” Nói xong, hắn bảo các viên tiêu quan, chỉ huy Nhạn doanh chuyển hướng hành quân đến thẳng Thanh Loa trấn trong núi. Chẳng ngờ chuyến đi này lại là: “Lợn dê đã đến nhà đồ tể; Từng bước gieo thân tới miệng hùm.” Rốt cuộc trong Thanh Loa trấn đang ẩn giấu nguy hiểm cổ quái thế nào, xem hồi sau sẽ rõ.

Hồi thứ 2: Xem tướng trâu bò
Lại nói, mưa gió trong núi chuẩn bị ập xuống, Trương Tiểu Biện lệnh cho hơn hai nghìn lính dõng Nhạn doanh vào Thanh Loa trấn tránh mưa. Nhưng Nhạn Bài Lý Tứ là người thường săn bắt, len lỏi đi đường rừng núi lên hết sức mẫn cảm, cảnh giác, gã đứng trên cao nhìn xuống thị trấn cổ nọ, thấy yên ắng khác thường, chẳng có bóng dáng người nào. Cứ cho rằng, cư dân ở đây vì thiên tai địch họa mà đã chạy trốn hết nhưng thị trấn cổ này vừa tối đen, vùa lạnh lẽo, khí âm nặng nề, xem ra là chỗ chẳng lành.
Nhạn Bài Lý Tứ động lòng, bảo với Trương Tiểu Biện : “Thanh Loa trấn này núi non bao bọc bốn phía, địa hình rất hiểm yếu, nếu toàn doanh chúng ta đều vào đó nghỉ ngơi, trễ nải phòng bị, nhỡ xung quanh đây có Việt khấu xuất hiện, nhân mưa gió đánh úp, lấp thế từ cao đánh xuống thì Nhạn doanh không tránh khỏi tổn thất lớn, Chi bằng để lại đại đội người lưu lại trên đỉnh núi, chỉ đưa một toán lính dõng vào trong trấn thăm dò tình hình. Chia quân trên dưới như thế là hình thành nên thế ỷ dốc, hỗ trợ lẫn nhau”
Trương Tiểu Biện không muốn đội mưa gió ngủ lại trong trướng cùng đạị quân trên đỉnh núi, liền phải quân dò đường, đồng thời đưa anh em Nhạn Bài Lý Tứ và một toán lính dõng đến thẳng Thanh Loa trấn, càng đến gần càng thấy trong thị trấn quả nhiên không có một bóng người, trên trời mây đen kéo đen kịt, bốn phía càng thêm u ám. Ngoài tiếng sấm động ầm ù ra, cả thị trấn lớn như vậy không hề co một tiếng gà kêu chó sủa.
Hồi ấy, thiên hạ đại loạn, quan lại vương pháp chỉ là hữu danh vô thực, dẫ là đạo tặc tạo phản hay là quan binh, lính dõng của triều đình cũng chẳng khác bọn thổ phỉ, trong doanh trại thì ăn thịt uống rượu, ra ngoài đường thì làm những chuyện cướp của, giết người, phóng hỏa, đốt nhà. Đó là những chuyện thường như cơm bữa, nên địa phương nào cũng thế, người dân hễ nghe phong thanh là bỏ chạy, mười nhà thì đến chín nhà bỏ hoang.
Chính vì vậy, bọn Nhạn Linh Nhi tuy thấy trong trấn yên ắng, nơi đâu cũng nặng nề tử khí nhưng cũng không thấy làm lạ lắm. Họ biết rằng, giả sử có người già, phụ nữ, trẻ con không chạy kịp, nếu thấy quân Thanh thì cũng đã sớm đóng chặt cửa nẻo, ẩn nấp đi từ lâu. Vì vậy, bọn họ sai bọn lính dõng thân tùy ai nấy cầm dao, giơ thương, phòng hộ cẩn mật, chặt chẽ ở hai bên doanh quan.
Trương Tiểu Biện đi theo quân, vốn không thèm để ý đến động tĩnh trong Thanh Loa trấn, chỉ mải nhìn chằm chằm con mèo Trường Diện LA Hán. Hắn chỉ mong rằng hễ nó chưa mở miệng thì dẫu cho trời sập Trương Tam gia cũng chẳng hề hấn gì, nhưng hễ con mèo mở miệng kiêu, báo hiệu điềm dữ thì tính mạng của Tam gia sắp nguy tới nơi, không rõ có trốn thoát được không nữa
Trương Tiểu Biện ngoài khoác nhung trang khôi giáp, bên trong mặc bộ giáp nhẹ Hắc Thiền có thể tránh được nước lửa, ngầm giắt thêm đao nhọn và súng ống. Tuy hắn bên ngoài trông thư thái nhưng bên trong rất nóng ruột, không tránh khỏi lộ ra sắc mặt thoắt vui sướng thoắt lo âu. Nhạn Bài Lý tứ ở cạnh thấy thế liền cất tiếng hỏi: “Huynh đệ Nhạn Doanh chúng ta phần lớn đều xuất thân từ đạo tặc, mãi lộ, lúc nào cũng bị quan phủ nghi ngờ, đề phòng, hơn nữa đám Việt khấu cũng hận chúng ta đến xương tủy. Có điều, Tam ca chớ lo ngại, chỉ cần còn một hơi thở thì dẫu bọn chúng có giở trò trong tối hay ngoài sáng thì anh em sẽ bảo vệ tam ca đến cùng.

Trương Tiểu Biện biết Nhạn Bài Lý Tứ có nghĩa khí hơn người, nhưng chuyện của Lâm Trung Lão Quỷ quái lạ, chẳng có cách nào nói cho rõ ràng chân tướng, đành đánh lảng sang rằng, không phải do an nguy của bản thân mà bước đến Thanh Loa trấn, chợt nhớ một chuyện cũ hồi trước, tuy đã xảy ra cách đây mấy năm, nhưng khi nghĩ lại vẫn phải nghiến răng căm hận.
Nhạn Bái Lý Tứ và Nhạn Linh Nhi nghe thấy thế càng ngạc nhiên, không rõ là chuyện cũ thế nào? Kỳ thực, câu chuyện dó không phải do Trương Tiểu Biện bịa đặt ra. Vốn vùng Linh Châu có một nơi phồn hoa nghìn năm, cá rồng vùng vẫy, từ xưa tới nay có tên là ” Thất tuyệt”. Cái tuyệt nổi tiếng đầu tiên, đó là hiện tượng bóng tháp trong mây. Ngôi Tháp Vương hồi trước cao chọc mây trời, mỗi khi mây mù tụ lại trên những ngọn núi xa xa ngoài thành thì ánh sáng mặt trời khúc xạ làm xuất hiện hình ảnh kì lạ của các bóng tháp tới triều kiến, nên dân gian còn gọi là “thành Tháp”, nổi tiếng ngang với “Thành phố Biển” Đăng Châu. Có điều, sau khi Tháp Vương bị lửa chiến tranh phá hủy thì hiện tượng lạ của thành phố Tháp không còn thấy nữa.
Cái “tuyệt” thứ hai là tòa Miêu tiên từ trong thành. Trong phạm vi cả nước trên dưới, đại giang nam bắc, Quan Nội hay Quan Ngoại, tuy đất rộng vật nhiều nhưng chẳng nơi đâu có phong tục kỳ lạ thờ cúng mèo làm tiên. Điều này chỉ duy nhất Linh Châu mới có, vì vậy được coi là một trong những cái “tuyệt”
Trong Thất tuyệt của thành Linh Châu thì có cái chỉ vào danh lam cổ tích, có cái chỉ vào phong tục, không cái nào giống cái nào, cái “tuyệt” cuối cùng chỉ vào món bánh nướng Thanh Loa. Thanh Loa trấn nằm ở bên rìa địa phận Linh Châu, có thịt bò Ngũ hương hảo hạng và váng sữa bò để nướng bánh. Kẹp bánh nướ với thịt bò để ăn thì rất ngon, dư vị còn mãi. Chính vì vậy, trong thị trấn có rất nhiều cửa hàng bánh nướng, nhà nào cũng có ngón nghề riêng và bí quyết gia truyền độc đáo.
Hai năm trước, Trương Tiểu Biện còn chưa mở mày mở mặt, hắn từng đến Thanh Loa trấn trộm gà bắt chó, thèm thuồng quá định lấy trộm mấy cái bánh nướng trong cửa hàng của người ta ăn, kết quả là bị họ chộp được bím tóc, bắt sống cùng tang chứng, vật chứng ngay tại chỗ. Hắn bị một trận đòn no mà chưa được ném miếng bánh nào, tới giờ nghĩ lại, vẫn căm tức trong lòng. Nhưng không thể như thế với Nhạn Bài Lý Tứ và Nhạn Linh Nhi được. Tam gia làm sao để mất mặt được, chỉ nói rằng, hồi trước phải khi anh hùng mạt lộ, nghèo khổ khó, trên đường gặp được hàng bánh nướng, xem tay nghề của ông chủ đúng là được truyền dậy đàng hoàng, vì vậy mới xin một cái bánh nướng về để nuôi mẹ già tám mươi tuổi trong nhà. Nào ngờ đâu, tên chủ tiệm bánh nướng keo kiệt bủn xỉn, cặp mắt chó coi khinh người nghèo khổ, nhất quyết không chịu bố thí, ngược lại còn giơ nắm đấm lên đánh. Mấy cái gân của tam gia ta bị hắn làm đứt, tới giờ mỗi khi trời mù sắp mưa thì đầu xương khớp vẫm còn thấy đau đớn, khó chịu.
Nhạn Bài Lý Tứ nghe thấy thế phẫn nộ: “Thằng cha đó khinh người quá lắm, phải biết rằng quân tử báo thù mười năm chưa muộn, tam ca còn nhơ tiệm bánh nướng đó không? Để huynh đệ tìm đến đó giết sạch nhà hắn rồi cho một nắm lửa, nước sạch sẽ, gạch vỡ ngói vụn cũng không chừa thì mới hả được cơn giận này”
Trương Tiểu Biện tỏ ra độ lượng nói: “Thời gian trôi đi, cảnh vật thay đổi, còn tính toán gì những chuyện cũ đó nữa? chẳng qua ta tức cảnh sinh tình, nhớ lại khi lưu lạc khắp nơ, ăn đói mặc rét, nhưng lúc nào cũng cho rằng sẽ có ngày mở mày mở mặt, có lúc được ăn no mặc ấm, suốt ngày rong chơi sung sướng. Tới ngày nay, tuy thân này được vào chốn công môn, làm đến chức chánh tam phẩm, có hao linh cài mũ, không phải lo lắng đến miếng cơm manh áo nữa nhưng có ai biết rằng trước kia ra từng phải trải qua rất nhiều khổ cực không tưởng tượng được. Xem ra con người ta sống trên đời thật giống như hoa dại chẳng trồng đâu cũng có, ưu phiền không cấy biết bao người”

Mọi người vừa nghe chuyện vừa đi. Đã vào đến con phố giữa Thanh Loa trấn. Trong trấn này có mọt ngôi chùa cổ nghìn năm tuổi. Lúc nơi đây còn thịnh vượng, chùa này cũng là một nơi thờ cúng có tiếng, tên gọi là “Ngõa Quán tự”, bên trong thờ Thành Hoàng lão gia. Tới nay, chùa đã bị bỏ hoang nhiều năm, chỉ thấy cửa chùa xiêu vẹo, tượng đất của lũ Tiểu quỷ, Phán quan, Ngưu đầu, Mã điện đổ lăn lóc, cái thì mất đầu mất cổ, cài thì thiếu thân thiếu tay.
Chính vào lúc ấy, giữa lưng chừng trời, mọt tiếng sấm sét nổ vang khiến mái ngói của ngôi chàu cổ ung lên bần bật, mây đen kịt trời, sét đán thêm sấm nổ, gió giật nổi ồ ồ, mưa ta sắp ập xuống đến nơi. Lúc đầu, mưa nhỏ giăng mắc, kế đến thì ào ạt xối xả như dốc sông đổ bể, không trung đầy mây mưa mờ mịt. Chái nhà như thác đổ, đất bằng hóa lòng sông, ohas xa dâng sóng vỗ, phòng ốc cuốn theo dòng. Dòng nước chảy ngoằn ngoèo, khe cống đầy ngập ngụa, chốc lát mưa to như trút, khoảnh khắc nước tuôn lênh láng.
Nhạn Bái Lý Tứ vội vã dẫn mọi người vào trú trong Ngõa Quán tự. Cả đấm đều là lính hành quân đánh trận nên chẳng úy kị gì, vào đến bên trong sảnh thì ngồi bêt cả xuống đất, xem ra cơn mưa trong một giờ nửa khắc cũng khó ngừng được, liền lệnh cho một toán lính thổi lửa nấu cơm.
Trương Tiểu Biện trong lòng có chuyện lo lắng, đứng ngồi không yên. Đồng thời, thấy đằng sau còn có một tòa hậu điện, hắn tính tìm một nơi yên tĩnh liền rảo bước đi ra. Huynh đệ Nhạn Bài Lý Tứ sợ hắn gặp thích khách liền vội vàng bám sát hai bên như hình với bóng, Ba người dẫn vài tên thân tùy, đi xuống hành lang, vòng vào trước cửa hậu điện, chợt nghe bên trong vọng ra tiếng bò rống: “bò… ò… o… “. Cả bọn không khỏi kinh ngạc, chẳng ngờ người dân trong thị trận đã chạy trốn từ sớm mà vẫn còn một con bò? Huống chi, con bò đó lại ở bên trong ngôi chùa cổ hoang phế này?
Trương Tiểu Biện nói: “Con bò này quá nửa là do thằng sư hổ mang nào đó nuôi dưỡng. Việc sát sinh, đánh chén thịt thà trong chùa nát, đúng là việc làm của bọn hòa thượng đi ngang. Đã bị Tam gia ta bắt gặp thì đúng vừa khéo cho huynh đệ trong doanh được một bữa thịt bò hầm, khỏi phải nuốt đống lương khô cứng ngắc”, nói đoạn hắn giơ chân đạp toang cửa điện, đi vào trong xem xét. Chỉ thấy trong điện thắp một đĩa đèn dầu lờ mờ, bụi phủ đầy mặt đất, mạng nhện chăng khắp nơi, tượng đát Ngũ đạo thần quân trên bệ thờ đã bị sứt mặt mũi từ lâu, một con bò mộng bị xỏ mũi, buộc vào chân cột gần cửa, góc nhà có một cái nồi đang đun, bên trong toàn là thịt bò, sọt tre đặt bên cạnh chất đầy bánh nướng, xem cách bày biện tựa như một nhà người dân đang giết bò để mở tiệm bánh nướng vậy.
Cửa tiệm như thế này trước kia hết sức phổ biến trong Thanh Loa trấn, nhưng không rõ tại sao lại ở trong chùa, kỳ quái hơn nữa, trong sảnh còn có một cỗ quan tài sơn then bóng loáng. Bọn Trương Tiểu Biện đều kinh hãi, chẳng nhẽ cương thi trong quan tài thành tinh, đâng định mở của hàng giết bò, nấu thịt nướng bánh hay sao?
Nhạn Bài Lý tứ xuất thân từ đám lục lâm, đảm lược trí tuệ đều vào hạng siêu quần, trong khi đánh trận thì giết người như ngóe, vào sinh ra tử vẫn coi như chuyện bình thường, chẳng coi mấy việc quái lạ này vào đâu. Gã hừ lạnh một tiếng, goi tả hữu tiến lên dắt con bò mộng ra ngoài định giết lấy thịt ăn,

Trương Tiểu Biện học qua thuật “Văn vật thông tải” do lâm Trung Lão Quỷ truyền thụ, không chỉ xem được mèo, biện được chó mà còn biết được các laoij trâu bò, ngựa nghẽo.Nếu luận về những loài ngựa hay, giá trị ức vạn thì không ngoài những loài như Ô Nha mã, Yên Chi mã, Ngải Diệp Thanh, Can Thảo Hoàng, Hỏa Diệm câu, Thanh Tông Thú, Bạch Long câu, Ngọc Đỉnh ký… Chúng có thể đi vào ban ngày một nghìn dặm, ban đêm tám trăm đặm, thời cổ có BÁ Nhạc giỏi xem tướng ngựa, những việc đó chúng ta không bàn tiếp nữa.
Nhưng nói về thuật xme tướng trâu bò, thiết tường cũng chẳng qua phân biệt thành bò mộng, bò vàng, trâu nước mà thôi. Tuy chúng có hình thể lớn nhưng cũng chỉ dùng vào việc kéo bừa,cày ruộng. Chẳng nhẽ thuật xem tướng trâu bò là hữu danh vô thực ư? Kỳ thực ra, trong các loài trâu, bò thì có chia thành các loài lành dữ, hung ác, Trương Tiểu Biện thấy con bò mộng bị xỏ mũi trong sảnh hết sức kì quái. Nếu là những con bò hiền lành, khỏe manh thì sẽ có lông dài vai rộng, đồng thời cũng cần trán lớn, sừng dài, nhưng con bò mộng vô chủ này thì lông ít, xương nhiều, lưỡi lạnh, chân cao, chân thấp có khoáy lông, sừng vặn veo, xem ra đúng à một loài “quỷ tướng”.
Con bò mộng thấy có người bước vào liền ngẩng đầu, mắt lộ tia hung ác, mũi thở ra tiếng phì phò. Nhạn Bài Lý trâu bò đã nhiều rồi, nhưng xưa nay chưa từng thấy con nghiệt xúc nào to gan như thế này, đáng giết không tha”
Trương Tiểu Biện cũng ngạc nhiên nói: “Nghe nói, bò già thường rống, chắc hẳn trong bụng có báu vật” Nói đoạn, liền tiến lên, giơ tay sờ thử vào lưng bò xem thử nó đã già yếu hay còn đang khỏe mạnh. Phàm là bò mộng, ba tuổi có hai răng, bốn tuổi có bốn răng, năm tuổi có 6 răng, sau đó mỗi năm thì nối liền một đốt xương sống. nò ngờ, vừa thò tay đặt lên lưng thì sờ thấy từng mảng từng mảng vảy thịt. Trương Tiểu Biện giật thót mình, biết rằng con bò mộng trước mặt vốn không phải là bò. Hắn vỗi vã cúi đầu nhìn con mèo Trường Diện La Hán đang ngồi trên đất, thấy nó mở miệng định kêu, thật là:”Trăm nghìn sợ hãi tìm run rẩy; Hồn phách rụng rời mặt cũng tan”. Muốn biết chuyện sau ra sao, xem hồi sau sẽ rõ.
Hồi thứ 3: Qủa Phụ Nướng Bánh
Trong truyền thuyết dân gian thời xưa, trâu bò là một loài vật thông linh với trời đất. Dưới Âm ty có hung thần đầu trâu chuyên ăn ma quỷ có tên là “Phương lương”, trên dương gian cũng có loại quái ngưu mọc vảy thịt chuyên ăn thịt người. Loài bò này có thể đuổi quỷ, dựng xác chết dậy,, sai khiến xác chết tự cởi quần áo, sau khi cái thây đã trần truồng ra thì con bò đó mới ăn thịt. Chuyện đuổi quỷ dựng thây tuy chưa chắc có thật nhưng con bò quỷ tướng ” Phương Lương Ngưu” này có tính tình bất tắc, hết sức hung ác, không ăn cỏ mà ăn thịt thối, từ thời Hán đã sớm tuyệt tung tuyệt tích.
Trương Tiểu Biện nhận ra con bò này, nghĩ đây là vật của dư nghiệt Tháp giáo cũng không chừng, trong lòng chợt dâng lên cảm giác ghét cay ghét đắng, đúng lúc đấy, đột nhiên con mèo Trường Diện La Hán mở to mồm khiến hắn ba hồn lên mây, bảy vía độn thổ, hoảng hốt tới tức trong đầu chỉ có một suy nghĩ là vội vã mở ống tre ra, chiếu theo chước vãn hồi thiên cơ ở trong đó để cứu lấy cái mạng nhỏ của mình.
Nhưng, mới vừa bóp vỡ lớp xi niêm phong ống tre thì thấy con mèo La Hán nọ hóa ra vừa mới ngáp chứ chưa cất tiếng. Trương Tiểu Biện bị một phen sợ hút chết, thấy hai chân đều mềm nhũn ra . Hắn gắn lại ống tre, đưa tay cốc đầu con mèo một cái, sau đó mới sai tả hữu đêm con bò mộng ở hậu điện chùa Ngõa Quán ra bên ngoài giết chết nhưng không được ăn thịt mà phải rút gân lột da, rồi xẻ thịt nó ra làm tám mảnh, đem gói trong bộ da rồi chôn xuống đất.

Mấy tên thân tùy dạ ran rồi xúm lại, ra tay trói nghiến con bò. Bỗng nhiên, cái nắp quan tài trong sảnh vang lên tiếng ken két, bên ngoài trời vẫn mưa như trút, sấm nổ ì ùng, mọi người thất kinh, những tưởng cái thây tác quái, liền nhao nhao rút phắt yêu đao hộ vệ phía trước Trương Tiểu Biện.
Nhạn Bài Lý Tức chửi một tiếng, giơ chân đạp tung nắp quan tài, vung đao định chém. Nào ngờ, bên trong quan tài có một cô ả mặc đồ tang đang ẩn nấp, kêu lên: ” Quân gia xin nương tay, tiện thiếp là người sống.” Vừa nói, ả vừa lồm cồm bò từ trong quan tài ra ngoài, vái chào kiểu Vạn Phước trước đám quân quan Nhạn doanh, tự xưng là dân nữ ở vùng này, xuất thân từ nhà gia giáo nền nếp, ngặt nỗi số phận đen đủi. SAu khi được gả làm vợ của chủ tiệm bánh nướng Triệu Lục trong Thanh Loa trấn, hai vợ chống thức khuya dậy sớm, vất vả làm nghề bán bánh nướng nhưng cũng chỉ đủ sống lay lắt qua ngày, tạm cho là yên ổn. Nào ngờ,

Trời kia mưa gió bất thường, làm người họa phúc biết đường nào lo, Triệu Lục bị giặc cướp giết chết, hàng bánh cũng bị phá, vì vậy, ả ta không còn chỗ nào trú thân, đành phải chuyển vào ở tạm trong hậu điện của chùa Ngõa Quán đổ nát làm bánh váng sữa nhờ người ta mang vào trong thị trấn bán hộ, kiếm chút tiền bạc, lương thực sống qua ngày. Cho tới nay, ả vẫn chỉ ở một mình với cỗ quan tài không khâm liệm, tượng trưng vài đồ vật của người chồng đã mất.
Ẳ ta lại nói: ” Phần lớn mọi người trong Thanh Loa trấn đã chạy trốn hết rồi, thị trấn chỉ còn lại một ít cô nhi, quả phụ và người già bệnh tật. Trong thời buổi chiến loạn này, ai nấy đều như chịm sợ cành cong, hễ nhác thấy bóng người ngựa trên đỉnh núi là vội vã gói ghém đồ đạc trốn đi. Tiện thiếp thân gái chịu tang, hoảng sợ không biết trốn đâu, đảnh phải ẩn nấp trong quan tài. Tới nay, cả nhà cả cửa chỉ còn lại mỗi con bò mộng đó thôi, thấy quân gia định đem nó giết nên mới sợ hãi bật ra tiếng kêu như thế.”
Nhạn Bài Lý Tứ thấy ả cũng khá yêu kiều nhưng thần thái rất khác lại, liền cật vấn rằng: “Nhạn doanh chúng ta đều là quan quân, không phải là sơn tặc, thảo khấu, mũ giáp, cờ hiệu đề rất rõ ràng, bọn tiện dân các ngươi không có mắt phỏng? Thấy quan quân sao lại bỏ trốn, chẳng lẽ chúng bay đã ngấm ngầm câu kết với giặc hay sao?”
Ẳ ta cúi đầu thẽ thọt van vỉ lí nhí: “Xin quân gia đừng trách, chúng tôi đều là người dân lương thiện, an phận thủ thường, gặp phải thời buổi loạn lạc, cho dù cướp núi hay cướp song thì chúng tôi cũng chẳng biết làm thế nào chống đỡ. Hôm nay đột nhiện thấy có bao nhiêu lính dõng cầm đao cắp thương từ trên núi xuống, ai mà chẳng sợ hãi? ”
Nhạn Bài Lý Tứ thấy ả đối đáp trôi chảy kín đáo, không có sơ hở gì, không sao vặn hỏi được, nhưng cái kiểu ráo hoảnh như không ấy chẳng hề giống một ả góa phụ đang chịu tang chút nào, những lời ma mị của ả chỉ che được mắt người ngoài chứ làm sao giấu nổi Tứ gia của Nhạn doanh này. Gã nghĩ bụng: “Nếu ta một đao chém chết nhà ngươi chẳng hóa làm ô danh của Nhạn doanh hay sao. Tứ gia ta còn muốn xem xem ngươi định giở trò quái quỷ gì.” Chính vì vậy. gã giả vờ không để ý, cắm ngọn Thu thủy Nhạn linh đao trở vào bao, lạnh lùng nhìn soi mói nhất cử nhất động của ả nọ.

Nhạn Linh Nhi và những người tùy tùng khác đều là những người khôn ngoan tinh mắt, biết rằng ả góa phụ này có điều lắt léo, ai nấy đều ngầm đề phòng. Lúc ấy, bỗng thấy ả góa phụ nhà họ Triệu hai tay bưng một bát bánh nướng, chầm chậm dâng lên chư vị quân gia của Nhạn doanh dùng tạm
Toán người Nhạn doanh đang căng thẳng như cung giương kiếm tuốt. chỉ cần ả góa phụ nào dám mạo muội vọng động là lập tức loạn đao băm nát ngay tại chỗ, nhưng Trương Tiểu Biện thấy con mèo La Hán chưa mở miệng, biết rằng hạn lớn chưa đến, tạm thời chưa có nguy hiểm gì, lòng can đảm cũng theo đó mà tăng lên, liền hỏi: “Bánh nướng của tiểu nương tử có phải dùng thịt bò Thanh Loa không?”
Ẳ góa phụ nọ đáp: “Đây là ngón nghề do người chồng quá cố của tiện thiếp truyền dạy, nhân bánh đều dùng thịt bò rút xương hảo hạng để làm cả.” Nói đoạn, ả dâng bánh nướng Thanh Loa đến trước mặt mọi người.
Trương Tiểu Biện thấy thịt làm nhân bánh có màu tím đen, từ da đến xương đều được băm vụn, hoàn toàn không giống màu thịt bò, tuy mùi nước sốt rất đậm nhưng không giấu được mùi xác thối luẩn quẩn bên trong. Hắn nhìn trộm con mèo La Hán dưới chân, chỉ thấy con mèo khoang to, lông lốm đốm như tranh, đang cuộn tròn trên mặt đất, giương mày trợn mắt, tỏ ra rất kinh tởm. Phàm là những con mèo có linh tính, rất ghét ăn phải thịt thối, Trương Tiểu Biện thấy thần thái của con mèo La Hán như vậy, biết ngay nhân bánh nướng làm bằng thịt người.
Trương Tiểu Biện đoán định ả nọ chắc chắn là dư nghiệt Tháp giáo lọt lưới, định lệnh cho thủ hạ ra tay. Nào ngờ, ả góa phụ từ đầu đến giờ luôn cúi đầu, bỗng đột nhiên ngẩng lên, để lộ ra một bộ mặt trắng bệch trát đầy phấn, cặp mắt oán hận đỏ lên như ứa máu, mở miệng thè ra một cái lưỡi dài, đầu lưỡi chẻ hai, phát ra tiếng xè xè như một con rắn độc phóng lưỡi, bắn thẳng vào Trương Tiểu Biện.
May mà mọi người ở Nhạn doanh đã sớm đề phòng, Nhạn Bài Lý Tức là người cực kì nhanh tay nhanh mắt, đời nào để ả ám sát doanh quan. Gã quát lên một tiếng: “Con yêu phụ”, rồi vung đao chém tới. Nói ra thì chậm chứ diễn biến cực nhanh, Nhạn linh đao đã xả xuống vai của ả, chém ngã lăn ra đất. Gã nhấc chân đạp cứng ả góa phụ, đám lính dõng còn lại nhao tới trói nghiến ả ngay tại chỗ.
Tháp giáo chẳng qua chỉ là một đám yêu nghiệt biết chút tà thuật Tạo Súc, chuyên ăn trộm thi hài người chết, bắt cóc đồng nam, đồng nữ, làm những việc đen tối, chứ gặp phải Nhạn doanh thì chúng căn bản không chịu nổi một đòn, Ẳ góa phụ nọ tuy thủ đoạn có quái dị nhưng trời xui đất khiến thế nào mà lại chạm phải Nhạn Bài Lý Tứ chứ chẳng phải ai khác, gã này đâu phải hạng tay mơ? Ẳ thất thủ bị bắt, đầu vai lại bị xả vào tận xương, đau đớn không chịu nổi, tự biết mình sẽ bị hành hạ như đám đồng đảng trước kia nên không ngớt van xin tha mạng.
Trương Tiểu Biện không sai người trị thương, chỉ sai quân đem dao cắt phăng cái nang độc trên lưỡi của ả, sau đó tra hỏi ngay tại chỗ: “Nay ngươi đã lọt vào tay của Nhạn doanh rồi, chẳng còn đường nào sống sót đâu, đáng ra phải đem dao ra lóc từng miếng thịt của nhà ngươi mới phải, nhưng, tiểu nương tử xinh xắn trẻ trung thế này, Tam gia ta sao nỡ gia hại, chỉ cần ngươi cũng khai sự thực thì ta sẽ suy nghĩ lại.”

Ẳ nọ thấy chuyện đã hỏng, đành phải cung khai hết. Vốn ả là ” Xà mẫu” trong Tháp giáo, từ khi giáo chủ Bạch Tháp chân nhân bị quan phủ hành quyết, toàn bộ giáo đồ đều bị tiễu rừ sạch, Xà mẫu trốn trong chùa Ngõa Quán của Thanh Loa trấn, lóc thịt tử thi làm nhân bánh để đem bán, lại đặt một cỗ quan tài không làm linh vị cho giáo chủ, ngầm thề nguyền sẽ báo thù rửa hận. Nhưng, sau nhiều lần trà trộn vào Linh Châu để hành thích, ả đều không thành công vì trong thành phòng bị rất nghiêm ngặt.
Sáng sớm nay, ả thấy quan quân tiến vào trong trấn, định cao chạy xa bay nhưng xưa nay phàm là kẻ thù đụng mặt, tai mắt đều vô cùng bén nhạy, nên từ xa ả đã nom thấy cờ hiệu của Nhạn doanh, bèn tự nhủ đúng là oan gia ngõ hẹp, xem ra không phải oan gia thì không thể chạm trán được, nghĩ đoạn liền quyết ý nấp vào quan tài chờ cơ hội… Nhưng, do việc chuẩn bị không được chu đáo, làm mất đi tiên cơ, đành phải mạo hiểm động thủ, định liều mạng cùng chết với đối phương, rốt cuộc vẫn không thành. Ẳ biết mình không tránh khỏi cái chết, chỉ cầu xin được chết cho toàn thây.
Nhạn Bài Lý Tứ và Nhạn Linh Nhi đều bảo, nếu cho tướng sĩ áp giải Xà mẫu về nộp cho quan phủ, chỉ e nó giở tà thuật giữa đường thì không ổn. Yêu nhân Tháp giáo làm nhiều việc ác, trừ được đứa nào thì hay đứa ấy, thế mới gọi là:

“diệt cỏ diệt tận gốc, mầm cỏ mới không mọc, diệt cỏ không diệt tận gốc, xuân đến lên xanh mấy chốc.” Tới nay, nó đã rơi vào tay chúng ta thì còn giữ lại làm gì? Giết ngay tại chỗ là hơn.
Trương Tiểu Biện nghĩ bụng: “Xem ra, đám dư nghiệt Tháp giáo coi Tam gia ta như cái đinh trong mắt, không tiêu diệt tận gốc bọn chúng thì sau này ta khó mà ngủ yên được. Con quả phụ bán bánh nướng này trông yêu mị như thế chắc chắn đã từng dan díu với Bạch Tháp chân nhân nên mới để bụng báo thù rửa hận cho chồng. Nay đã bắt sống được ả thì phải sớm giết đi, tránh đêm dài lắm mộng, lưu lại hậu hoạn sau này.” Vì vậy, hắn sai lính dõng mang đến một miếng vải, bịt mặt Xà mẫu lại, dùng dây gai treo cổ ả dưới hành lang, sau đó nổi lửa hỏa thiêu thi thể.
Nhạn doanh đã từng phụng mệnh giết sạch giáo đồ của Tháp giáo tại thành Linh Châu, phàm là bắt được kẻ tình nghi thì không cần hỏi han lằng nhằng, cứ nhất loạt hành quyếtgiết chết không biết bao nhiêu, hôm nay chỉ phải giết một ả góa phụ thì chẳng khác nào giết chết con sâu, cái kiến.
Trương Tiểu Biện liền dẫn người tra xét hậu điện của chùa Ngõa Quán, chỉ thấy dưới đáy quan tài đầy những tay chân thối rữa của người chết, còn ở trong nồi nấu thì có cả gan người, đầu người.
Đám người Nhạn doanh bịt mũi, đem xương thịt người chết ra nhà dưới thiêu hủy, lại sai mấy tên quân khỏe mạnh, lực lưỡng, cầm dao tai trâu, trói gô con bò mộng đang xỏ mũi trong nội điện, mang ra ngoài trời mưa giết chết.
Con Phương Lương ngưu thường được cho ăn thịt xác chết, tính tình hung tợn, nhưng mũi đang bị xỏ vòng, nên không thể trốn thoát được, bị đám lính dõng Nhạn doanh đạp ngã ra, dùng dao tai trâu cắt đứt cổ họng, máu tươi ồng ộc chảy ra như nước vỡ đê. Trước khi chết, con bò giãy giụa muốn đứng dậy, trợn tròn hai mắt, nhìn trời rống lên. Tiếng rống cuối cùng uất nghẹn kịch liệt, xuyên thấu qua màn mưa dày đặc, hòa cùng với tiếng sấm động ì ùng thành một tiếng rền, vang dậy khắp rừng núi Thanh Loa.

Lúc ấy, cũng không biết do tiếng sấm dậy đất hay tiếng bò rống động trời mà nền đất của ngồi chùa cổ đột nhiên cũng rung chuyển ầm ầm như hưởng ứng theo. Gạch ngói trên mái điện rung lên bần bật, tường đá, cột gỗ lắc lư răng rắc không thôi, cảnh tượng thật khác thường. Cả đám Trương Tiểu Biện đều kinh hãi, dường như phía dưới của ngôi chùa Ngõa Quán đang đè lên một con vật to lớn nào đó, bị tiếng bò rống làm kinh động, muốn đội đất chui lên. Trương Tiểu Biện dự cảm thấy chuyện chẳng lành, tuy chưa thấy con mèo La Hán mở miệng nhưng cũng đã cuống cả chân tay. Hắn đưa mắt nhìn con Phương Lương Ngưu đang nằm trong vũng máu, chợt thót tim nghĩ ra một việc rất nguy hiểm, kêu lên một tiếng : “Không xong rồi”, lần này chỉ sợ đã trúng phải quỷ kế của Tháp giáo rồi.
Xem ra năm nay đen đủi, số xui đều tìm đến Tam gia, con người đã gặp vận hạn thì đúng là đến uống ngụm nước mát cũng bị cứng hàm, đến một ngày gặp phải sự cùng quẫn thì có khác nào:

” Mưa vùi hoa rụng tháng Ba; Dương liễu tháng chín sương sa gẫy cành.” Rốt cuộc trong chùa Ngõa Quán phát sinh ra quái sự kinh thiên động địa nào xem hôi sau sẽ rõ.
Hồi thứ 4: Ngõa Quán tự
Trương Tiểu Biện đột nhiên nhớ ra một chuyện, vào cái đêm tra khảo Bạch Tháp chân nhân trong mật thất phủ Đề đốc lúc trước, khi dùng cực hình tra tấn tàn khốc để bức cung, hắn đã tra ra rất nhiều chỗ ẩn nấp của yêu ngiệt Tháp giáo. Các hình vi tà ma của Tạo Súc, phóng độc đã sớm xuất hiện từ thời Đường, sau khi cấu kết thành môn phái, lưu truyền từ đời Nam Tống cho tới ngày nay, bọn chúng trước sau đều tôn cổ tháp ở Linh CHâu làm Thông thiên Thần minh, nguồn gốc ra sao thì tới nay không thể khảo cứu được nữa.
Về sau, nhan môn quan phủ căn cứ vào đầu mối trong lời khai của Bạch Tháp trân nhân, , điều động một lượng lớn công sai, truy bắt yêu tà Tạo Súc khắp nơi, thu được mấy bức tranh mà đám giáo đồ vẫn thắp hương cúng tế. Trong những bức tranh đó đều vẽ một tòa tháp màu đen, bóng tháp lờ mờ, xiêu vẹo trông không được rõ nét lắm. Dưới tòa tháp đen quái dị con có một con bò mộng ăn thịt người, trên lưng bò có một con rắn Ngũ hoa.
Nội dung bức tranh hết sức cổ quái, không ai nói rõ được ý tứ đang ẩn giấu bên trong, chỉ biết rằng, tín đồ Tháp giáo coi đó là chân thân của Giáo tổ, vẽ thành hình tượng để đời đời thắp hương thờ phụng.
Trương Tiểu Biện từng trông thấy bức tranh này, nhưng cũng đã lâu lắm rồi nên dần quên bẵng đi, thêm vào đó, hiện giờ Trương Tam gia nhà hắn đang run sợ như tượng đất đi qua sông, không biết làm thế nào để trốn tránh tai họa, thì giờ đâu mà suy nghĩ đến mấy cái việc chẳng liên can đó. Tới khi giết chết con bò mộng và Xà mẫu trong ngôi chùa cổ Ngõa Quán, phát hiện thấy hiện tượng dị thường dưới tòa Đại Hùng bảo điện, hắn mới nhớ ra chuyện trước nghĩ bụng: “Chẳng nhẽ bức tranh vẽ Giáo tổ của Tháp giáo chính là vẽ Thanh Loa trấn? Hôm nay, núi nghiêng, đất lở, chẳng lẽ tháp đen sẽ hiện thân hay sao?”
Bầy ngựa buộc trước điện dều kinh hãi, chực giật đứt dây cương để bỏ trốn, Đám người Nhạn doanh tự cảm thấy có điều khác lạ, ai nấy rút đao, nắm thương chạy ra khỏi gian điện. Lúc ấy, mưa to vẫn như trút, trong khuôn viên ngôi chùa cổ, nước đã tích tụ thành vũng xâm xáp bàn chan. Giữa tiền điện và hậu điện và khu đình viện có đường thần đạo lát gạch xanh, chỉ thấy ở chỗ đọng nước sâu nhất trên đường thần đạo có bào khe nứt rộng, tựa như hồi trước bị toác ra do hạn hán. Khe nứt trên mặt đất sâu không thấy đáy, dẫu cho có bao nhiêu nước mưa tuôn xuống cũng không thể làm cho nó đầy lên được.

Chỉ thấy từ trong dòng nước của khe nứt bỗng chui ra một con cóc lớn như cái bánh xe to, toàn thân xanh biếc, trên lưng có một đường bằn bện màu đen viền vàng chạy suốt đến đỉnh đầu, trong giống như một bóng tháp đen kịt, đôi mắt giận giữ nhìn trừng trừng, phùng hai má kêu ồm ộp như tiếng trống. từ trong cái miệng rộng, một cái lưỡi dài phóng thẳng vào trong bụng của con bò chết, sục sạo một lúc thì moi ra một cục Ngưu hoàng to khoảng bằng nắm tay, liền thu lưỡi, nuốt luôn vào bụng.
Linh Châu từ thời xưa đã có nhiều cóc, nháu, đặc biệt là vùng xung quanh Ứng Trủng sơn có rất nhiều ếch. Những con ếch đó được gọi là “ếch Kỳ Lân”, là một món sơn hào hải vị trên các bàn tiệc. Hồi trước, lúc đào cương thi trong núi, Trương Tiểu Biện từng gặp một con ếch đại tướng trong hang núi, trông cũng giống như con ếch to lớn dữ tợn trong chùa Ngõa Quán này. Những tiêu quan, lính dõng còn lại của Nhạn doanh thì chưa từng nhìn thấy con vật nào như thế này nên hết sức kinh ngạc, nhất thời chỉ biết trợn mắt, há mồm nhìn, quên cả sử dụng súng ống, cung nỏ trong tay.
Lúc ấy, trong lòng đất vọt lên hàng nghìn con cóc, nhái, đủ các chủng loại khác nhau, nhỏ to hỗn độn, không thể phân biệt nổi. Nhìn qua thì trong đó có loài cóc đất, nhái bén, cóc vàng, ếch,… , to thì như cái bát lớn hoặc như cái đấu đong gạo, nhỏ thì không quá ngón tay cái. Bầy cóc nhái đpội trời mưa, từ trong hang dưới mặt đất trèo lên mặt đường thần đâọ, tụ tập lại dày đặc như một bức tường, đỡ con cóc lớn đầu đàn lên vị trí cao nhất, sau đó, cả bọn phùng mang trợn mắt cùng kêu. Tiếng có nhái thê lương vang dậy khắp bốn phía.
Lời tác giả: Chuyện này đúng là đã bị Trương Tiểu Biện đoán ra. Bách tính Linh Châu phần lớn sùng bái Miêu Tiên, nhưng giáo đồ phát Tạo Súc lại coi Tháp cổ là chí tôn. Có điều, cái tháp đó không phải là một cái tháp xây bằng vôi sữa, gạch ngói mà là một loài cóc có hình dáng quái dị sống ở Thanh Loa trấn. Đây là mọt loại cóc đất chuyên đào hang, khoét mả ăn xác chết, trên lưng nó có những đường vằn vện giống hệt hình dáng cái tháp. Trên thực tế, chúng là một loại cóc núi, khi cả bầy quầy tụ lại thì giống một tòa tháp đne di động, chính vì vậy, trong Thủy lục dạo tràng mà dân gian mở ra để siêu độ cho vong hồn người chết, chúng còn được gọi là “Minh tháp”
Loài cóc núi ngày thường thì không xuất hiện ở nơi có ánh sáng, nhưng hễ vọt ra từ lòng đất lên thì chắc chắn sẽ kết tụ thành một đám chồng chất lên nhau tựa như muốn cõng nhau lên trời vậy. Hiện tượng này cũng giống như việc bầy sói tru dưới ánh trăng, đều là tập tính tự nhiên. Nhưng, nghe đồn, nếu trong thiên hạ sắp xảy ra một cuộc biến động lớn như thay đổi triều đại, hoặc tai họa trời long đất lở nào đó thì mới xuất hiện hiện tượng dị thường này, Hồi Nam Tống sắp diệt vong, trong thành Lâm An cũng xuất hiện quái sự ” cóc nhái bầy thành trận, đi khắp thành”, hơn nữa, cửa nhà nào cũng có, nam ngày chúng vẫn không tản đi. Quả nhiên, mấy năm sau, thiết kỵ của quân Mông Cổ đánh xuống phía Nam, tiêu diệt hoàn toàn triều đình Nam Tống đang rú rú ở một dải đất. Chính vì vậy mới nói hiện tượng này là điềm báo rất dữ.
Tháp giáo ngoài mặt thì thờ cúng tòa tháp làm thần tiên nhưng trên thực tế là thờ cóc tiên. Phong tục coi cóc là Thanh thần này bắt nguồn từ đám hậu duệ của người Miêu. Cóc âm là chúa ăn xác thối, nên đám tạo Súc đều tin loại cóc nàu là thần tiên. Xà mẫu của Tháp giáo nuôi dưỡng con bò mộng Phương Lương, đợi khi trong bụng bò kết thành Ngưu hoàng thì giết bò, ném xuống hang trong lòng đất tế Thanh thần, để cóc núi khỏi đội đất nhảy lên, gây tai họa cho thế gian. Đây là một phong tục kì lạ, dòng giống người Miêu từu xưa đã có, nhưng truyền đến hai đời Minh, Thanh thì ý nghĩa tốt đẹp khi xưa đã không còn. Tháp giáp cho tới nay vẫn giữ việc nuôi bò lấy Ngưu hoàng nhưng là có ý gây họa, làm loạn.

Chi tiết chuyện này thế nào thì Trương Tiểu Biện không hiểu nhưng thấy bầy cóc xếp thành hình tháp trong chùa Ngõa Quán, hắn cũng biết đó là điềm trời sắp giáng họa lớn, khó lòng dẹp được, đời thái bình thịnh trị mà trong mơ hắn cũng mơ thấy e rằng không còn hi vọng gì nữa. Hắn sôi máu, hét lớn một tiếng: “Giết!
Lính dõng Nhạn doanh bốn phía đã giương cung lắp tên, sẵn sàng đợi lệnh doanh quan, bây giờ lập tức bắn tên ra như mưa, nhắm thẳng vòa con cóc núi đang chồm hỗm ở chỗ cao nhất.
Linh Châu từ xưa đã có thói quen ăn cóc, nhái, người dân bản xứ thường bảo nhau rằng: “Cóc lớn có sữa trên lưng”. Sữa ở đây là chỉ tuyến độc trên lưng của những con cóc lớn, cóc già, mà người không thể ăn được. Con cóc núi to như cái bánh xe, có vằn vện trên lưng như tranh vẽ, khi bị trúng tên thì dịch độc bắn phọt ra, vài tên lính dõng không tránh kịp, bị dính chút ít lên mu bàn tay và mặt, lập tức chất kịch độc thấm sâu vào xương tủy và não bộ, kêu gào thảm thiết, ngã vào vũng nước mưa, lăn lộn vài cái rồi nằm thẳng cẳng.
Lính dõng Nhạn doanh từng là quân tinh nhuệ từng trải sa trường, thấy không gian trong hậu điện chật hẹp, liền kêu gọi, hô hoán nhau tản ra. Con cóc núi trúng mấy mũi tên mà vẫn trơ trơ như không, trèo từ đống cốc, nhái xuống dưới, phá tung vách điện, chui vào Đại Hùng bảo điện.
Trương Tiểu Biện mới vừa đem quân bao vây bốn mặt chính điện thì con cóc núi lại phá tường, đội mưa gió, liều mạng xông thẳng ra ngoài đường. Hơi thở tỏng miệng nó có thể làm người ra mê mân, lính dõng chạm phải đều bị mùi ám khí tanh hôi kia làm cho ngã lăn ra đát bất tỉnh. Nhạn doanh tuy người đông thế mạnh, nhưng cũng không ngăn được nó.
Nhạn Bài Lý Tú trầm tĩnh quan sát, biết rằng con cóc núi tuy hung ác tàn nhẫn nhưng cũng chỉ là loài vật ngu ngốc. nếu nó đã nhảy ra đường thì nhà cửa, phòng ốc nhấp nhô sẽ làm giảm đi thanh thế của nó, có thể dùng sức để trị được. vậy là, gã để Nhạn Linh Nhi dẫn mấy tên thân tùy hộ vệ doanh quân còn mình thì tung người nhảy lên ngựa, chỉ huy lính dõng thủ hạ chia đường, trèo lên mái nhà, cây cối,chiếm cứ các điểm cao để bắn tên xuống, kế đó ra roi phi ngựa nhanh như gió, nhảy qua bức tường đổ nát của ngôi chùa đuổi gắt sau lưng con cóc núi.
Con cóc nhảy vào lòng đường, mới chuyển qua một góc phố thì trên người đã bị tên cắm như lông nhím. Nó cũng hoảng hốt, chạy nhảy lung tung, nhưng làn mưa tên bắn ra từ bốn phương tám hướng càng lúc càng dày đặc, cuối cùng, đành lùi vào một nhà dân. Nhưng cái nhà đó đã cũ nát xiêu vẹo, không đứng vững nữa, con cóc núi vừa xô một cái đã sập mất nửa mảng tường.
Mảng tường đổ đè chặt con cóc xuống, chỉ để lộ ra nửa cái đầu. Nó chống chân trước, định nhảy vọt lên khỏi đống đổ nát. Ngay lúc đó, Nhạn Bài Lý Tứ dẫn mười mấy tên lính dõng đuổi kịp, vung đa chém nhầu, chặt lìa nửa cái đầu cóc, máu tươi đổ lênh láng dưới mưa, chảy đầy trên mặt đất. Có người dùng chân đá thử cái đầu cóc chết không nhắm mắt đó, chỉ thấy nặng như cối đá, có lẽ không dưới mấy chục cân.
Nhạn Bài Lý Tứ kéo cái đầu cóc đầm đìa máu phía sau đuôi ngựa, quay về phục mệnh với Trương Tiểu Biện, rồi nói: “Con cóc này hôi tanh như xác thối, không phải vật tầm thường. Thật chẳng ngờ tòa Thanh Loa trấn này lại là sào huyệt của Tháp giáo. May mà anh em Nhạn doanh thân thủ hơn người, lại đã đề phòng từ trước, nếu không chỉ e khó lòng đối phó với chúng.”

Trương Tiểu Biện vội chắp tay khen phải: “Tứ ca thực là Triệu Long tái sinh, vào chỗ quân trăm vạn như vào chỗ không người, nay xử lý đám yêu tà Tháp giáo thì còn gì phải bàn nữa. Đến nay, Tháp giáo trên dưới đã bị quan phủ đuổi tận giết tuyệt rồi, không còn là mối họa nữa, chỉ có điều việc cóc núi xếp thành tháp chẳng phải điềm hay ho gì, thế đạo loạn lạc này không biết đến bao giờ mới dứt được, xem ra về sau chiến sự càng lúc càng lớn, Nhạn doanh chúng ra chắc sẽ phải tham gia đánh trận rồi.”
Nhạn Bài Lý Tứ nghe thấy thế cũng không khỏi lộ thần sắc ảm đạm, đang định sai lính dõng trong doanh lùng sục khắp nơi trong Thanh Loa trấn thì bỗng nghe thấy tù và u u từ xa vọng đến, trên dãy núi ngoài thị trấn vang lên tiếng hô hoán vang trời dậy đất. Ngay lúc ấy, có một tên lính dõng cuống cuồng chạy tối bẩm báo, toán quân trên đỉnh núi gặp phải đại quân Việt khẩu, súng ống dưới mưa không thể bắn được, Nhạn doanh đành phải dựa vào địa thế, dùng cung cứng nỏ mạnh ngự địch, nhưng Việt khẩu kéo đến rất đông, lại nhân lúc mưa gió tập kích, chiếm được thiên thời, cứ theo tình hình hiện giờ mà nói thì khó phân được thắng thua.
Nhạn Bài Lý Tứ và Trương Tiểu Biện nghe quân tình có biến, vội vã dẫn người về hậu điện. Lý Tứ tụ tập mấy viên tiêu quan lại, dùng than vẽ sơ qua địa hình của Thanh Loa trấn, lại bày mấy hòn sỏi, mẫu gỗ trên mặt đất để biểu thị binh lực và sự sắp xếp quân của hai bên, rồi trỏ vào đó bảo với các tiêu quan: Trên đỉnh núi đang lúc mưa to gió lớn, nếu lúc này liều chết phá vây thì đến giữa đường, Nhạn doanh chúng ta sẽ bị Việt khẩu đánh cho tan nát. Nay chúng ta không còn đường nào khác, đành cố thủ chờ viện binh. Các đội cần phải chiếm những cứ điểm nào, công thủ tiến thoái thế nào, tiếp ứng chi viện thế nào. Mọi người nghe trưởng quan bố trí, đoạn cùng Nhạn Bài Lý Tứ vội vã đi ngay, chia đường dẫn quan nghênh chiến dưới mưa.
Trong gian hậu điện của ngôi chùa cổ chỉ còn lại Trương Tiểu Biện, Nhạn Linh Nhi và mấy tên hộ vệ, Trương Tiểu Biện ngồi bệt lên mặt quan tài, chửi thầm rằng: “Không biết hôm nay là ngày gì mà đầu tiên thì mưa to như trút ngăn đường cản lối, vào đến cái chùa rách nát trong thị trấn hoang vu này thì gặp phải thích khách hành hung, thấy điềm dữ cóc núi xếp tháp, bây giờ lại chạm trán với đại quân Việt khẩu. Sao những chuyện chết người đó đều xảy ra trong ngày hôm nay nhỉ?”
Hắn lại xoay chuyển ý nghĩ rằng: “Trương Tam gia đúng là người phúc lớn mạng lớn, bên cạnh lại có anh em cùng nhau sống chết, bọn Việt khẩu, Tháp giáo dẫu cho hung hăng đến mấy cũng làm gì được ta? Chỉ cần con mèo Trường diện La Hán này không mở mồm thì Tam gia ta sẽ gặp dữ hóa lành, gặp họa hóa phúc.”
Trương Tiểu Biện lại nhớ đến những lời của Lâm Trung Lão Quỷ, chỉ cần mình thoát khỏi hạn lớn trong đời này thì đừng nói đến chức quan tam, tứ phẩm có Hoa linh cài mũ mà tương lai ngay cả chức quan nhất phẩm cũng có, vinh hoa phú quý dễ như trở bàn tay. Song, có câu rằng: “Hạn đến khó thoát”, không rõ kiếp nạn tày trời này rốt cuộc từ đâu đến? Lúc đó, mình có trốn thoát được không?
Nhạn Linh Nhi đứng cạnh Trương Tiểu Biện, tay cầm loan cung đầu nhạn, lắp sẵn ba mũi tên khoái tiễn, chỉ đợi một khi có Việt khẩu đánh tới chùa Ngõa Quán là bắn tên liên châu giết chết. Thấy thần sắc Trương Tiểu Biện chợt vui mừng, chợt hoảng hốt, từ xưa đến nay đã trải bao chiến trận, cô liền khuyên, Tam ca chớ suy nghĩ nhiều, Nhạn doanh là đội quân đã từng trải trăm trận, trước mắt tuy bị rơi vào vòng vây trùng trùng nhưng cũng có thể chống giữ được năm, ba hôm. Hơn nữa, nơi đây cách thành Linh Châu không xa lắm, mưa ngừng thì viện binh ắt sẽ đến, lúc đó, trong ứng ngoài hợp, chẳng phải sẽ giết Việt khẩu không còn manh giáp hay sao.

Trương Tiểu Biện không muốn mất uy thế trước mặt Nhạn Linh Nhi, liền cố xốc tinh thần, miễn cưỡng cười khan, tỏ vẻ bình tĩnh như không, nói rằng: “Hồng hộc không lông bay chẳng nổi; Hổ không nanh vuốt khó ra oai. Trương Tam gia ta thống lĩnh Nhạn doanh chinh chiến nam bắc, may mà có Tứ ca và Lục muội bên cạnh, thật chẳng khác nào hồng hộc có thêm cánh, hổ them nanh vuốt. Nhạn doanh chúng ta là đội quân hùng mạnh bách chiến bách thắng, nào coi đám Việt khẩu, Niệm phỉ ô hợp ra gì. Có điều trong lòng ta thường ngày… thường ngày vẫn ưu tư, cảm khái về thời loạn, lại thêm thương nhớ mẹ già tám mươi tuổi đang ở nhà.”
Trương Tiểu Biện liến thoắng một hồi, đang lúc định tiếp tục ba hoa với Nhạn Linh Nhi thì bỗng thấy con mèo La Hán đang nằm trên mặt đất nhảy lên nắp quan tài đánh “soạt” một cái, cặp mắt nhấp nhoáng, mặt đối mặt với Trương Tiểu Biện, nhìn chằm chặp vào hắn kêu “meo… o… o” một tiếng.
Chỉ là một tiếng mèo kêu nhưng Trương Tiểu Biện sợ đến nỗi hồn bay phách lạc, miệng kêu lớn “trời ơi”, người ngã lộn khỏi quan tài, nằm sõng soài trên nền đất. Hắn cũng chẳng dám bò dậy, mà vội lập cập móc cái ống tre trong bọc ra, định xem xem rốt cuộc kế sách vãn hồi của Lâm Trung Lão Quỷ trong đó là thế nào. Nào ngờ, vừa thò tay vào bên trong sờ soạng thì chẳng thấy gì cả, vật bên trong ấy đã không cánh mà bay.
Có câu rằng: “Số phận đã do trời định sẵn; Nay người muốn trốn, trốn sao đang.” Rốt cuộc chuyện sau thế nào, xem hạ hồi phân giải.
Hồi thứ 5: Vãn Hồi Cơ Trời
Tương truyền, “mèo có tiếng mèo, chó có lời chó“. Phàm đã là loài vật có linh tính thì đều có tâm niệm cảm ứng. Nghe nói, khi rắn nuốt ếch thì con ếch không dám động đậy, chỉ im lặng chờ chết; mèo dữ bắt chuột thì con chuột cũng không dám trốn tránh. Trong quan niệm thời xưa, người ta cho rằng đó là do chúng ta đã dùng tâm niệm để chấn nhiếp tinh thấn của đối phương. Mà mèo hoang là loài đứng đầu trong các động vật có linh tính ấy, trong đám mèo hoang, Trường diện La Hán là con mèo bề ngoài lười nhác uể oải nhưng lại có thể biết trước được việc sinh tử, lành dữ của chủ nhân. Ngày thường, nó giống như một con mèo câm, chẳng kêu, chẳng gào tiếng nào, nhưng không mở miệng còn được, chứ hễ mở miệng là “hại chủ”.
Trương Tiểu Biện lăn lộn trong thành Linh Châu đã lâu, bọn mèo hoang trong thành đều coi hắn là chủ nhân. Hôm nay, trong hậu điện của ngôi chùa cổ Ngõa Quán tự nghìn năm, con mèo Trường diện La Hán đột nhiên nhìn thẳng vào Trương Tiểu Biện mà kêu lên một tiếng, khiến hắn ngã lộn xuống đất, phải vội vã thò tay vào bọc lấy ống tre có kế sách cứu mạng của Lâm Trung Lão Quỷ ra.
Nào ngờ sờ soạng mãi chẳng thấy gì, đầu Trương Tiểu Biện như vỡ tung lên, nghĩ thầm: “Thôi chết, Trương Tam gia lần này chắc phải mất mạng rồi. Dọc đường bôn ba, gập ghềnh, không biết cái ống tre rơi đi đâu nữa? Đúng là nghìn vạn lần không nên rời thành Linh Châu. Nếu sớm biết rơi vào tình cảnh như ngày hôm nay, chẳng bằng cứ trốn trong Miêu Tiên từ, giữ khư khư cái ống tre. Nhưng Tam gia ta nào có tài tiên tri, ngờ đâu con mèo già này sớm không kêu, muộn không kêu, lại nhè đúng lúc này mới nhằm vào Tam gia ta khạc lên một tiếng.”
Nhạn Linh Nhi vừa mới rồi thấy Trương Tiểu Biện còn cười nói như không mà bây giờ bỗng đột nhiên ngã lăn ra đất, thần sắc trên mặt biến đổi. Cô vội vã đỡ hắn dậy, gặng hỏi nguyên do.

Trương Tiểu Biện đờ đẫn nói: “Con mèo già này biết được chuyện sống chết của chủ nhân, hễ nó mở miệng là cái chết của Tam gia ta đã đến, chỉ e không qua nổi hôm nay.” Hắn càng cảm thấy cuộc đời mình thật là bất hạnh, mấy phen vào sinh ra tử, khó khăn lắm mới leo được lên chức Tham tướng chánh tam phẩm, nhưng ngồi ghế quan còn chưa ấm chỗ thì đã phải mất mạng, càng nghĩ càng không cam tâm, hắn bất giác rơi lệ.
Nhạn Linh Nhi liền khuyên giải: “Tam ca, đã có hơn hai nghìn huynh đệ Nhạn doanh chúng ta ở đây, ai chán sống mà dám động đến sợi long của huynh? Hơn nữa, con mèo già làm sao mà biết được chuyện sống chết, xưa nay đều nghe nói giàu nghèo dễ đoán, trộm cướp dễ đoán, duy chỉ có số thọ là khó đoán. Đến tiên sinh họ Trần chuyên bói chuyện cát hung trong thành Linh Châu cũng không thể đoán được số hưởng dương của người ta, còn con mèo khoang già này chẳng phải là Diêm vương hay Phán quan gì, làm sao có thể mở miệng là định việc sống chết của con người được, việc này có chứng cứ gì đâu?”
Trương Tiểu Biện quệt nước mắt, nước mũi đang rỏ trên mặt rồi nói: “Muội tử không biết đấy thôi, thường có câu rằng,

“chưa nổi gió tây ve đã biết, Vô Thường ngầm đến chết không hay”. Con mèo Trường diện La Hán là vật thông linh, theo “Miêu phổ” đời xưa truyền lại, chỉ cần nó mở miệng lên tiếng thì chủ nhân khó lòng sống sót, không còn chỗ nào trốn tránh nữa. Chỉ đáng tiếc, chúng ta đời này có duyên kết nghĩa huynh muội, chưa được ở với nhau bao lâu thì đã phải sinh ly tử biệt rồi… ”
Hắn nghẹn ngào nói lấp lửng, tự biết kiếp nạn hôm nay không thể trốn tránh được, nhớ ra mấy việc quan trọng cần phải dặn dò, liền nén lòng, nói: “Con bà thằng cha thối tha nhà nó, Tam gia chết thì chết, một chết là xong, có gì mà ghê gớm cơ chứ, mẹ kiếp, nhưng trước khi ra đi còn việc này phải dặn. Về sau vào dịp Thanh minh, Đông chí, muội chớ quên đốt hương hóa vàng nhiều một chút cho Tam ca này và Tôn Đại Ma Tử. Huynh đệ chúng ta sống nửa đời người làm kẻ khố rách áo ôm, đến chết cũng không muốn làm ma đói dưới thành Uổng Tử đâu. Còn nữa, trong phủ của Mã đại nhân có một ả tên là Tiểu Phượng, cũng được coi là có chút tình nghĩa đồng hương với ta, muội nhớ đón ả ra, đừng để ả tiếp tục làm nô tỳ cho người ta sai bảo nữa.”
Trương Tiểu Biện nói đến đây, tự dưng phục mình ghê gớm, trong long càng thấy bừng bừng phẫn nộ, nghị bụng: “Tới lúc sắp chết mà ta còn không quên những giao tình trong hoạn nạn khi xưa. Có thể thấy Trương Tam gia là người có lòng lành hết sức. Người tốt mà bảo phải chết là phải chết, chẳng hóa ra ông trời không có mắt ư?”
Nhạn Linh Nhi thấy Trương Tiểu Biện nói rất thực lòng, nên bất giác cũng tin vài phần, nhưng vẫn an ủi rằng: “Tam ca, huynh chớ nói những lời xui xẻo đó nữa. Đang yên đang lành làm sao mà nói chết là chết được, cứ cho là Việt khẩu đánh vào Thanh Loa trấn đi, bọn muội cũng sẽ xả thân bảo vệ huynh mở một đường máu, phá vây ra ngoài.”
Trương Tiểu Biện hiểu rõ quân Nhạn doanh tinh nhuệ vô cùng, các tướng như Nhạn Bài Lý Tứ rất giỏi chỉ huy đánh trận. Việt khẩu kéo đến đỉnh Thanh Loa lĩnh tuy đông đảo nhưng chưa chắc đã được đánh vào trấn, riêng việc này thì hắn yên tâm. Hơn nữa, hắn đã vận đủ nhung trang khôi giáp, nai nịt đâu đấy, bên trong là giáp nhẹ Hắc Thiền có thể tránh được nước lửa, còn giắt them súng ngắn trong bọc, đeo trường đao ở hông, trang bị từ đầu đến chân, không có chỗ sơ hở nào, dẫu là súng Tây, pháo Tây bắn vào trước mặt thì cũng không thể lập tức chết ngay được. Nhạn Linh Nhi bên cạnh hắn cũng là xạ thủ có tài bách bộ xuyên dương, chỉ cần có cây loan cung đầu nhạn và bảy mươi hai mũi tên lông đuôi nhạn trong tay thì chẳng ai dám lại gần Tam gia trong trăm bước.

Bố trí như vậy, kể cũng đã “ổn thỏa”, vậy còn phải lo lắng gì nữa? Nào biết rằng ý trời khó lường, những thứ mệnh số sinh tử ấy người thường tuyệt không thể dự liệu trước được. Nếu đúng là số chết đã đến thì dẫu cho anh có bản lĩnh lên trời xuống đất, cũng không trốn đâu cho thoát, nói không chừng, ngay cả khi ăn cơm cũng có thể nghẹn mà chết, uống nước cũng có thể sặc mà chết. Ông Gia Cát Lượng tài to thế, đáng gọi là đèn chiếu cổ kim, mưu không sơ hở, biết trước được số mệnh đã hết mới bày ra bảy ngọn đèn Thất tinh để mượn tuổi thọ, rốt cuộc cũng bị Ngụy Diên xông vào trướng đá đổ đĩa đèn, khiến cho Gia Cát Vũ hầu cũng phải “sao rơi gò Ngũ Trượng”. Thế mới biết, thời vận có thể đổi thay, duy chỉ số phận là khó biến cải, khó như là lên trời vậy. Đúng là:

“Diêm vương đã phán canh ba; Ai cho anh được la cà đến mai.”
Lại nói, con người ta trên đời, dẫu là giàu nghèo, hay sướng khổ, bất kể là thánh hiền, hay ngu muội, có sinh ắt có tử, khi đại hạn đã đến, tên tuổi trên sổ Sinh Tử bị đánh khuyên vào, thì cũng khó thể tránh khỏi chuyện “nhắm mắt xuôi tay”. Dù là đấng thiên tử đương triều, ở trên muôn vạn người, có núi vàng, núi bạc, giàu có tày trời thì cũng không mua nổi một ngày sống thêm, vì vậy lo lắng cũng có ích gì đâu?
Có điều, chuyện tàn khốc nhất thiên hạ, chẳng gì hơn việc biết trước ngày chết của mình. Trương Tiểu Biện còn trẻ lắm, trước mắt còn cả một thế giới tươi sang, tiền đồ phía sau còn rực rỡ, làm sao hắn cam tâm chết, tự nhiên là ngẩn ngơ như kẻ mất hồn, kinh hoàng, bối rối, khó mà ung dung dứt bỏ cuộc sống cho được.
Nhạn Linh Nhi cũng nóng ruột thay cho hắn, chẳng lẽ con mèo La Hán này linh ứng đến thế hay sao? Hễ nó mở mồm kêu là chủ nhân nhất định phải chết hay sao? Chẳng lẽ không còn chỗ nào để mà tránh họa hay sao?
Trương Tiểu Biện thê thảm nói: “Tam ca ta vốn chưa đến nỗi phải chết, trước đây từng gặp một dị nhân trong Miêu Tiên từ, được ông ta cho một kế sách lạ có thể vãn hồi cơ trời, giữ được tính mạng. Khi nào con mèo già hướng về Tam gia mà mở miệng thì ta sẽ phải làm đúng theo chỉ dẫn ấy mới có thể vượt qua được tai họa này. Nào ngờ, lúc nào cũng giữ chặt bên mình mà đến giờ phút cần kíp thì nó đã biến đâu mất tăm, đó chẳng phải ý trời muốn giết ta hay sao? Xem ra, ông trời muốn lấy tính mạng nhỏ này của ta rồi.”
Nhạn Linh Nhi tâm tư tỉ mỉ, nhắc nhở Trương Tiểu Biện: “Tam ca, nếu là vật quan trọng cất giấu trong người, làm sao Tam ca dễ dàng đánh rơi được? Mới vừa rồi, khi chúng ta vào trong hậu điện, muội còn thấy một ống tre trong tay huynh mà, có phải là cái đó không?” Có câu rằng:

“Trong cuộc thì tối, ngoài cuộc thì sang”,

Trương Tiểu Biện được người khác thức tỉnh bỗng ngộ ra, giơ tay vỗ vào đầu nói: “Đúng rồi, lúc gặp phải con Phương Lương ngưu, thấy con mèo ngẩng lên trời ngáp một cái, Tam gia ta sợ nó mở miệng kêu nên đã thò tay rút ống tre từ trong bọc ra, sau đó… ” Hắn nhớ lại một lượt các sự việc trong đầu, liệu chừng đúng lúc bị Xà mẫu hành thích, trong khi tay chân hoảng hốt đã không đút ống tre trở lại vào bọc, may mà chưa rớt trên đường đi, chỉ cần cái ống tre ấy chưa ra khỏi hậu điện Ngõa Quán tự, thì chẳng lo không tìm ra.

Trương Tiểu Biện thấy lóe lên một hy vọng sống, không đợi nói hết câu, vội vã cùng Nhạn Linh Nhi giơ đèn đuốc, tìm khắp nơi trên hành lang và cửa điện. Quả nhiên, hắn thấy cái ống tre rơi chỏng chơ một góc, xi vẫn gắn chắc trên miệng, chưa tổn hại gì, chắc hẳn trong lúc đám lính dõng Nhạn doanh hỗn loạn truy sát đàn cóc nhái đã đá văng nó lăn vào đây.
Trương Tiểu Biện như người chết đuối vớ được cọc, buông được tảng đá đè nặng trong long xuống liền vui sướng như điên. Hắn vừa khen ngợi Nhạn Linh Nhi rối rít, vừa quýnh quánh chân tay mở cái ống tre ra. Chỉ thấy bên trong ống là chín con mèo nhỏ nhắn bằng đồng, màu sắc cũ mèm, không biết là cổ vật từ triều đại nào nữa, ngoài ra còn có một bức tranh, trên đó ghi vài dòng chữ, soi dưới ngọn đèn đọc mấy lượt, hai người đều kinh hãi, há hốc mồm không ngậm lại được. Nếu chiếu theo bức tranh này mà làm thì có đúng là tránh được một trường đại kiếp sinh tử hay chăng?
Thì ra, cảnh tượng vẽ trong tranh là chín con mèo khoang vây lấy một người. Trương Tiểu Biện thuộc lòng “Miêu kinh”, nhận ra bức tranh này, đây là một truyền thuyết lưu truyền trong thành Linh Châu từ thời cổ, tương truyền mèo có chín mạng, ngoài tính mạng của chính bản thân ra, còn có tám mạng “Linh Thành, Mộc Quan, Thiên Ngọc, Địa Áo, Thố Sư, Phát Vi, Kiến Kim, Định Hỏa” nữa. Những mạng đó đều có thể ngăn được hạn, chống được họa, nhưng một mạng chỉ có thể ngăn được một nạn, hơn nữa trong số đó duy chỉ không có mạng Thủy, vì vậy người ta bảo rằng, mèo rất sợ nước.
Năm xưa, khi Miêu Tiên từ còn khói hương nghi ngút, nếu có người nào mắc phải bệnh nặng khó chữa thì người ta chuẩn bị lễ vật rất hậu, giết lợn, bò, dê, gà, vịt, ngỗng, tổng cộng ba loài gia súc, ba loài gia cầm, mang đến đền để cầu Miêu Tiên gia ban thêm tính mạng. Thời ấy, thiện nam tín nữ rất tin vào điều này, mỗi khi gặp phải kiếp nạn thủy hỏa đạo tặc thì nhà nhà đều treo bức “Cửu miêu đồ”, để cầu Miêu Tiên gia phù hộ cả nhà được bình an, không phải chịu cảnh chết chóc. Tới cuối đời Minh, phong tục thờ cúng Miêu Tiên dần dần bị quên lãng, đến nay tuy người dân vẫn có tục thờ cúng Miêu Tiên nhưng không ai tin chuyện “xin mèo ban tuổi” nữa.
Lời chú thích bên cạnh bức tranh đại thể là: Doanh quan Trương Tiểu Biện của Nhạn doanh sẽ gặp phải một hạn lớn, nếu tránh được thì trời vén mây mù, vinh hoa phú quý sẽ đến trong nay mai; nếu tránh không được thì sẽ mất mạng, vinh hoa phú quý tan thành mây khói. Có câu rằng:

“Mạng người đời, trời định sẵn”. Nếu số phải chết vì nước thì sẽ không chết vì lửa, thế nhưng rốt cuộc sẽ phải chết vì nước hay vì lửa thì chỉ có trời biết, đất biết, người lại không biết.
Con mèo Trường diện La Hán bẩm sinh có tính lành của nhà Phật, lại có mắt tuệ, có thể thấy được nhân quả lành dữ, có thể quan sát sắc mặt của người đời để dự cảm việc sống chết, họa phúc của chủ nhân. Nó chỉ cần trông ấn đường của chủ nhân có lằn tử khí thì lập tức mở miệng kêu lên, tỏ lòng thương tâm. Vì vậy, ai nghe thấy tiếng con mèo này kêu thì kẻ đó sắp phải chết, nhất định sẽ không thể trông thấy mặt trời mọc sáng hôm sau. Chuyện này trăm lần linh nghiệm cả trăm, không sai một mảy may. Thuở trước, các cao tăng còn thường nuôi giống La Hán Sư tử miêu trong chùa để biết được ngày mình viên tịch.

Thế nhưng, Lâm Trung Lão Quỷ thấy Trương Tiểu Biện khác hẳn người thường, trời sinh ra đã có mệnh của chúa mèo, biến số trong vận mệnh kỳ tuyệt vô song, hoặc sẽ cực giàu có, hoặc sẽ cực nghèo khổ, bao giờ cũng tránh kiếp tránh nạn được, phúc của bản thân hắn cũng rất lớn. Hiện nay, tuy hắn đã đi đến nơi sơn cùng thủy tận, tai họa vô biên sắp ập xuống nhưng chỉ cần vận mệnh nảy sinh biến số, họa may sẽ có cơ hội vượt qua kiếp nạn, xoay chuyển càn khôn. Thật đúng là:

“Lối chừng đã tắc, thêm đường mới; Nước đến tận cùng hóa vực sâu.”

Rốt cuộc, không biết Trương Tam gia có thể cứu vãn được tính mạng hay không, hạ hồi phân giải.
Hồi thứ 6: Biến Cố Kinh Người
Lại nói, Lâm Trung Lão Quỷ để lại cho Trương Tiểu Biện một kế sách vãn hồi cơ trời, xoay chuyển càn khôn. Cách này rất tà mị, chỉ chờ khi con mèo La Hán mở miệng kêu với chủ nhân, báo hiệu kiếp nạn sắp đến, lúc ấy nhất định phải tránh mưa, tránh gió. Tránh thế nào? Có nhà thì vào nhà, không có nhà thì vào động, dẫu là đình chùa, miếu mạo hay là quán trọ, nhà dân thì phải lập tức đi vào, đóng chặt cửa lại, đợi đến khi trời hửng sáng thì mới coi như đã tránh được đại nạn chết người này.
Ví thử đang ở chỗ đồng không mông quạnh, chẳng có phòng ốc, nhà cửa nào thì phải tìm cách chạy vào hang núi hoặc ẩn nấp dưới hốc cây cổ thụ, tóm lại là phải ẩn vào một nơi “ngẩng lên không thấy trời”. Sau khi nấp vào đó, dẫu bên ngoài có núi lở, đất nứt hay là phòng nghiêng nhà đổ, trời đất có xảy ra chuyện gì đi chăng nữa cũng phải coi như không nghe, không thấy, chỉ cần ngồi im không động đậy, chưa đến giờ thì tuyệt đối không được ra ngoài, nếu không thì tai họa sẽ lập tức ập đến, chết ngay tại chỗ. Đến lúc ấy thì Đại La thần tiên cũng không cứu nổi cái mạng nhép.
Chín con mèo con đúc bằng đồng là cổ vật để báo hiệu thời gian trong hoàng cung đại nội đời Đường. “Cửu miêu hoán mệnh đồ” đều dựa trên hình dáng của mèo đồng mà vẽ ra, hết sức linh nghiệm. Mắt mèo được khảm đá Huỳnh thạch, lấp lánh như sao, tùy theo sự luân chuyển của mặt trăng, mặt trời, trong bóng đêm chúng sẽ phát sinh ra năng lực hoán đổi số mệnh; đến khi trời sáng thì chín cặp mắt mèo sẽ biến thành màu ảm đạm, không còn ánh sáng, biểu thị vận hạn đã qua, vinh hoa phú quý từ nay về sau sẽ không cần cầu mà tự đến, quan cao lộc hậu tùy ý sẽ được.
Trương Tiểu Biện xem đi xem lại mấy món đồ trong ống tre. Hắn tìm được sự sống trong chỗ chết, thật giống như là:

“Vén được mây mù trăng ló rạng; Hoa đang vùi tuyết gặp xuân về.”

Hắn nghĩ bụng, từ sau khi rời thành Linh Châu, sấp sấp ngửa ngửa trên đường, trời xui đất khiến thế nào lại đi vào trong ngôi chùa cổ Quán Ngõa tự này. Xem ra số phận của Trương Tam gia chưa dứt hẳn, chỉ cần nấp trong gian nhà này, đợi đến khi trời sang thì có gì mà khó? Bây giờ, dẫu thằng ranh Hoàng đế có hạ chỉ thì Tam gia cũng mặc kệ, chẳng rời khỏi đây nửa bước.

Trương Tiểu Biện xuất thân từ đám du đãng ở đầu đường xó chợ, ngoài tính mạng của mình ra thì chẳng them để tâm đến thứ gì khác. Tính tình ngoan cố, bướng bỉnh của hắn một khi bột phát ra thì chuyện kháng chỉ chống lệnh cũng dám làm lắm. Trong long đã quyết như thế, hắn liền bày biện cái quan tài rỗng trong gian hậu điện một chút, biến nó thành một cái bàn, trên đó đặt một chiếc đèn, rồi căn cứ vào hình dạng to nhỏ của chín con mèo bằng đồng, sắp xếp theo thứ tự ở dưới chân đèn.
Đoạn, Trương Tiểu Biện ngồi bệt trên mặt đất, toàn thân nai nịt chỉnh tề, súng Tây và đoản đao cầm tay, canh giữ chín con mèo bằng đồng khảm Huỳnh thạch. Cứ vất vả chờ đợi hết giờ này qua giờ khác mà trời vẫn chưa tối, Thanh Loa lĩnh đang đổ mưa to bão lớn, đang ban ngày mà chẳng khác gì đêm đen. Tiếng mưa rơi, gió rít tuy rất dự dội, nhưng cũng vẫn không khỏa lấp nổi tiếng xung trận, giết chóc vọng đến bên ngoài thị trấn cổ.
Có nhiều lính dõng truyền tin chiến sự, phóng ngựa như bay về phi báo. Thì ra, Thanh Loa trấn bốn phía đều là núi, chỉ có hai con đường thông được ra bên ngoài, Nhạn doanh đã chiếm trước chỗ hiểm yếu để cố thủ. Quân Thái Bình định nhân lúc mưa gió để đánh úp, kết quả là bị đẩy ngược trở về, song phương đều có tử thương. Những lúc chiến sự kịch liệt nhất, hai bên vung đao thương đánh giáp lá cà dưới mưa, chém giết đến mức không phân biệt nổi địch, ta.
Trương Tiểu Biện thừa cơ tỏ vẻ anh hùng, sai tất cả thủ hạ đều ra trợ chiến, đồng thời báo cho toàn doanh biết rằng, xưa nay có câu: “Thà làm ngọc vỡ chứ không làm ngói lành”, Trương Tam gia quyết ở lại trong Thanh Loa trấn, nửa bước không lùi, cùng an hem toàn doanh đồng sinh cộng tử, nếu đánh lui Việt khẩu thì mọi người cùng trở về dâng công khen thưởng, mỹ nữ và vàng bạc muốn bao nhiêu có bấy nhiêu, nhược bằng bị thua Việt khẩu thì chúng ta tận trung báo quốc, bất khuất hi sinh. Hồi trước các an hem Nhạn doanh cùng ăn thề kết nghĩa, đã thề cùng sống chết, cùng phú quý, hôm nay chính là ứng vào lời thề lúc trước, chết cũng phải chết cùng một chỗ, chôn cùng một nơi.
Trương Tiểu Biện nói xong, liền sai Nhạn Linh Nhi giở rượu thịt đã mang theo ra, làm ra vẻ “dẫu cho núi Thái Sơn có đổ ngay trước mặt cũng không chớp mắt”. Thần thái của hắn tự nhiên như không, ngồi trước cỗ quan tài, dựa lưng vào một pho tượng đất trong điện, vừa xé thịt vừa uống rượu, dường như không để ý đến tiếng gào thét chém giết như tiếng sấm chọc vào tai. Đám lính dõng đứng cạnh hắn thấy thế, không ai không khâm phục, than rằng, doanh quan nghĩa khí hơn người, đời nay ít thấy, làm gì có ai hiểu được trong gan ruột hắn còn bụng dạ khác, chỉ một mực tưởng Trương đại nhân khí độ và đảm lược hơn người, coi quân giặc như không, thật là đáng mấy phần bản sắc lục lâm:

“Dạ anh hung trăng lu gió lớn; Chí trượng phu phóng hỏa giết người”, chúng tôi giao chiến trước trận, sao dám không dốc hết sức giết giặc chứ.
Kỳ thực ra, tim Trương Tiểu Biện đang đập thùm thụp. Hắn định mượn rượu để xốc chút tinh thần lên, đồng thời, mong rằng uống nhiều sẽ ngủ quên cho hết một đêm, đợi khi tỉnh dậy thì mây đen đầy trời sẽ tan hết. Có câu rằng:

“Xuân, hạ, thu, đông đều uống rượu; Nam, bắc, đông, tây chếnh choáng say.”

Nhưng trong lòng đã u uất thì dẫu có uống bao nhiêu, rượu cũng sẽ trôi tuột đi bấy nhiêu, càng uống thì sắc mặt càng trắng bệch ra, mồ hôi, mồ kê ướt đẫm, chẳng thấy say được chút nào. Trước nay người ta thường bảo, thời gian vùn vụt thoắt về già, nào ai biết được thời gian giờ lại trôi rề rà chậm chạp đến thế.
Trương Tiểu Biện cứ thế uống rượu trên quan tài, rồi ném mấy miếng thịt khô xuống đất cho con mèo Trường diện La Hán ăn. Nhưng, con mèo La Hán lại tỏ vẻ bồn chồn không yên, không chịu ăn uống, chẳng thèm để mắt đến miếng thịt khô trên mặt đất, đuôi mèo cứ phất qua phất lại không thôi, thỉnh thoảng lại kêu lên mấy tiếng.
Nhạn Linh Nhi lấy làm lạ hỏi: “Thiên hạ này sao lại có mèo chê mỡ. Con mèo La Hán này thật kỳ quái, dường như nó đang lo lắng điều gì? Liệu có phải trong chùa Ngõa Quán trấn Thanh Loa này sắp phát sinh đại sự gì không?”
Trương Tiểu Biện cũng có cùng suy nghĩ ấy: “Cơn mưa hôm nay rất lạ lùng, cứ như nghiêng sông dốc bể không ngừng. Lúc trước, đàn cóc nhái đội đất nhao nhao chui lên cũng đã là một triệu chứng cực kỳ bất thường rồi. Có điều, dải Thanh Loa lĩnh có hình thể rất đặc biệt, trong chu vi ba chục dặm không có bất cứ sông ngòi nào, vì vậy xưa nay không bị lũ quét xâm hại, nghĩ chắc cũng không đến nỗi toàn trấn bị ngập nước đâu.”
Chính lúc hắn đang nói thế, bỗng một tia chớp lóe lên làm gian điện sáng bừng, sau đó tiếng sấm nổ ầm ầm khiến cột trụ, mái ngói rung lên bần bật, trong khoảnh khắc, chớp giật sấm vang trên trời mà cứ ngỡ như ngay ở trên đỉnh đầu vậy. Trương Tiểu Biện và Nhạn Linh Nhi cùng ngẩng đầu lên trên quan sát, thấy mái điện có kết cấu theo kiểu một xà ngang xuyên tâm, ngôi chùa cổ đã lâu không tu bổ, trong cơn mưa gió bão bùng, chừng như lúc nào cũng có thể đột ngột sập xuống.
Nhạn Linh Nhi thấy tiếng sấm có vẻ chẳng lành, chỉ lo mái điện bị sét đánh trúng liền khuyên Trương Tiểu Biện nấp sang chỗ khác nhưng Trương Tiểu Biện cứ theo lời của Lâm Trung Lão Quỷ, thà chết không chịu chuyển chỗ. Thấy trời đã vào đêm, bây giờ mà ra ngoài thì hóa ra công cốc, thiên tượng tuy bất thường nhưng chỉ cần không rời khỏi hậu điện Ngõa Quán tự nửa bước thì dẫu cho cái xà ngang kia có đổ xuống cũng sẽ chẳng đổ vào đầu Tam gia này được. Hơn nữa, trên người hắn có mặc quan phục, há sợ gì sấm vang sét nổ. Lòng Tam gia ta như sắt đá, tối nay một lòng đem tính mạng ra, coi nhẹ như lông hồng, không đợi được đến khi chín cặp mắt mèo đồng tắt ngúm thì quyết không ra khỏi tòa hậu điện, dẫu sống chết cũng mặc lòng. Thế mới gọi là:

“Sự đời biến hóa bất thường; Anh hùng biết co biết duỗi.”

Bắp tay tuy to, nhưng sao to được bằng đùi, người phàm thì đừng nên tranh với ông trời, rốt cuộc là sống hay là chết, chỉ đành nghe theo sự sắp đặt của đấng cao xanh mà thôi.
Trương Tiểu Biện tuy mồm nói cứng, nhưng không khỏi phấp phỏm không yên, tự nhẩm lại những việc làm trước đây, thấy không phảm phải những tội đáng trời đánh. Từ khi được Tuần phủ đại nhân đề bạt, rồi từ quan chuyển sang quân thì hắn suốt ngày màn trời chiếu đất, thức khuya dậy sớm, chưa có nửa ngày nhàn nhã nào dẫn chúng huynh đệ Nhạn doanh vào sinh ra tử, đã lập nên biết bao công lao hãn mã. Tự vấn lương tâm, tuy hắn chưa từng làm những việc thiện như “bố thí cơm chay, xây chùa dựng tháp, sửa cầu đắp đường, nuôi kẻ cô quả, kính già thương nghèo”, nhưng Trương Tam gia cũng chưa bao giờ làm những việc thất đức khiến người ta phải nghiến răng, nhíu mày căm hận cả, những kẻ chết dưới tay hắn toàn là phường đại gian đại ác. Nếu nói đến những tội ác khiến trời đất, quỷ thần phẫn nộ như: “bất kính với trời đất, bất hiếu với cha mẹ, mắng sư nhạo Phật, hãm hại con gái nhà lành” thì hắn càng không liên quan. Trương Tam gia trong bụng toàn là điều nhân nghĩa, giữa đường thấy chuyện bất bình chẳng tha, không chịu nổi cảnh người khác phải thấy hoạn nạn, hễ gặp tất ra tay cứu giúp. Ví thử hôm nay không thể qua nổi kiếp nạn này, phải bỏ xác lại đây thì thực là oan uổng quá.

Trương Tiểu Biện chỉ sợ mình:

“Oan ức đời này do trước định; Số trời khó thoát họa vào thân.”

Những chuyện trong cõi u minh, ai mà liệu được? Tiếng sấm nổ liên tiếp khiến hắn phát run lên, nhưng tự nhủ rằng, Trương Tam gia hồi trước long đong lận đận, áo không đủ che thân, cơm không đủ ấm bụng, chỉ có mỗi ngôi miếu nát lạnh lẽo để dung thân, nếu không gặp được Lâm Trung Lão Quỷ thì nào có được ngày hôm nay? Trước mắt chỉ cần giữ được cái mạng nhỏ này thì coi như được rồi.
Nghĩ tới đó, Trương Tiểu Biện dằn lòng xuống, nâng cái bát to lên uống hai ngụm lớn, rượu mạnh như thiêu đốt ruột gan, hai tai nóng bừng, can đảm hẳn lên, chẳng thèm để ý đến tiếng sấm sét trên tầng không nữa. Trận sấm sét vừa mới nổ dứt trên đầu thì từ phía sau bệ thờ ở trong điện có tiếng sột soạt, dường như trong bóng tối có vật gì đó đang lao xao chuyển động.
Nhạn Linh Nhu thấy việc quái dị, ngoái đầu bắn ra một mũi tên, sau đó giơ đèn lên xem. Thì ra trên bức tượng Phán quan cầm sổ Sinh Tử đã sứt đầu có một con chuột già to chẳng kém mèo bao nhiêu đã bị một mũi tên đuôi lông nhạn xuyên qua, đóng cứng, chết tươi trên trang sổ bằng đất, máu tươi nhỏ giọt trên mặt đất, thấm đỏ một mảng lớn.
Trương Tiểu Biện thấy đó chỉ là một con chuột già liền yên tâm, khen ngợi rằng: “Lục muội thật không hổ là đệ nhất cung thủ của Nhạn doanh chúng ta, xem ra con chuột này… ” Lời còn chưa dứt, hắn bỗng thấy từ bệ thờ, cột điện, khe tường, xà nóc nhô ra vô số chuột bọ, rắn rết, trong đó, đến những con rết đầu đen và rết hai đầu cũng có, không hiểu lúc bình thường bọn chúng ẩn nấp ở đâu và cũng không biết trong khoảnh khắc, vì lý do gì mà chúng chen lấn, hò nhau chạy cả ra ngoài điện để chạy trốn như thế, tựa như dự cảm thấy có một tai họa to lớn nào đó sắp giáng xuống vậy. Con mèo Trường diện La Hán cũng sợ chết khiếp, chỉ e chạy không kịp liền lập tức đứng bật dậy, nhảy phắt lên nóc quan tài nằm im thin thít.
Trương Tiểu Biện và Nhạn Linh Nhi cũng phát hoảng, cuống quýt tay hất, chân gạt, rốt cuộc cũng đuổi hết đám chuột bọ trong điện ra ngoài. Lúc ấy thì cũng đã quá nửa đêm, sấm sét trên trời cũng dần dứt, mưa lớn trong núi cũng đã ngừng hẳn, do chiến sự ác liệt nên toán lính dõng canh giữ chùa Ngõa Quán đã được phái đi trợ chiến. Trong gian sảnh điện lớn chỉ còn hai người và một mèo, bên ngoài thỉnh thoảng ộp oạp vài tiếng ếch kêu, xung quang lại trở về trạng thái yên ắng không có chút tiếng động, yên ắng đến mức một sợi tóc rơi xuống đất tưởng chừng cũng có thể nghe thấy rõ ràng.
Hai người không nghe thấy tiếng giao chiến trên đỉnh núi, hiểu rằng chắc là Nhạn doanh đã đánh lui được Việt khẩu. Trận này không biết lại mất đi bao nhiêu huynh đệ, Nhạn Linh Nhi im lặng không nói năng gì, Trương Tiểu Biện thấy ngoài song cửa trời lờ mờ sang, bên tai văng vẳng tiếng gà gáy tinh mơ, bất giác đã tới lúc bình minh. Hắn vội vã nhìn vào chín pho tượng mèo con bằng đồng, thấy những viên Huỳnh thạch trong mắt chúng đã biến thành màu xám như tro, ảm đạm không phát sáng nữa.
Trương Tiểu Biện thầm nhủ, vậy là nhặt được cái mạng này về rồi, tuy vừa bị một trận sợ hãi nhưng rốt cuộc cũng tìm được đường sống trong chỗ chết. Đầu óc hắn đang căng như dây đàn bỗng chùng hẳn xuống, lúc đó mới có thể thở phào nhẹ nhõm, lẩm bẩm nói một mình rằng: “Ai nấy đều bảo làm người chẳng khác con sâu, cái kiến, xem ra không sai chút nào. Sống làm người chỉ sợ không hưởng được phúc, chứ có khó khăn nào mà không vượt qua được. Cả một đêm vất vả, rốt cuộc thì Tam gia cũng đã vượt qua được rồi.” Hắn nhớ đến anh em trong Nhạn doanh, trong lòng cuồn cuộn muôn niềm cảm khái, chẳng biết là vui hay buồn nữa. Hắn vươn tấm thân lười nhác, giắt lại khẩu súng Tây và ngọn đoản đao Thốn Thanh, phùng mồm trợn mắt thổi tắt ngọn nến trên nắp quan tài, sau đó ôm con mèo Trường diện La Hán, gọi Nhạn Linh Nhi, đá tung cửa phòng, chạy ra ngoài.

Nhưng, Trương Tiểu Biện mới vừa bước ra đến sân, đột nhiên phát hiện ra sự tình có điều kỳ quặc. Ánh sang nhấp nhoáng vừa rồi biến mất, xung quanh lại yên ắng như không, trời nào đã sáng đâu? Bầu không gian vẫn mù mịt mây đen khác nào muội than đáy nồi, thò bàn tay không nhìn thấy ngón.
Toàn thân Trương Tiểu Biện như bị dội một gáo nước lạnh, run lên cầm cập, trong chớp mắt, ba hồn bảy vía bat đi đâu mất, miệng hắn kêu lên: “Gặp phải ma rồi!” Hắn biết kiếp nạn vẫn còn chưa tới, vội vã nắm chặt tay Nhạn Linh Nhi, quay người chạy về. Chẳng ngờ, vừa mới quay đầu thì phát hiện ra trong bóng đêm phía sau lù lù hiện lên một bóng người đứng im lặng, khoảng cách gần đến nỗi suýt nữa hắn chạm mặt. Bóng hình đó như quỷ như ma, không hề giống người sống chút nào, dường như âm hồn đang đeo bám chặt sau lưng hắn vậy, không hề có chút sinh khí. Nếu Trương Tiểu Biện không quay người lại đột ngột thì không thể tận mắt nhìn thấy được. Tới nước này thì kế sách vãn hồi cơ trời của hắn đã giữa đường đứt gánh, thật đúng là:

“Nhà dột vừa khi mưa rả rich; Thuyền đơn gặp phải gió ầm ào.”

Rốt cuộc trong chùa Ngõa Quán phát sinh ra biến cố gì, xem hồi sau sẽ rõ.
Hồi thứ 7: Tiệt yêu tự
Lại nói, chùa Ngõa Quán đã hoang phế mấy trăm năm, lúc thường may ra chỉ hồn dã quỷ mới đến đây trú ngụ, từ xưa đến nay, trong chùa vẫn xảy ra nhiều điều cổ quái. Rõ ràng vừa rồi Trương Tiểu Biện nghe thấy tiếng gà gáy, lại thấy trời hửng sáng ngoài điện, cứ khấp khởi tưởng đại hạn đã qua rồi. hắn nghĩ tới huynh đệ Nhạn doanh, vội vã rời chùa Ngõa Quan, chỉ hận đôi chân không chắp thêm cánh, nào ngờ vừa mới ra khỏi hậu điện, ngẩng đầu lên nhìn thì mới hóa ra là không phải. Bấy giờ mới độ khoảng canh ba, con chưa tới canh tư, hắn cuống quýt, vội vã quay người chực chạy.
Nào ngờ trong màn đêm đan sau lưng lại hiện ra một bóng người, trong lúc nhập nhoạng, Trương Tiểu Biện và Nhạn Linh Nhi không nhìn rõ là ai, có điều khoảng cách quá gần, chỉ thấy đối phương có khuôn mặt đầy lông tơ, không giống hình người, hai cặp mắt ánh lên tia lạnh lẽo, quỷ dị. Hai người dẫu gan to đến mấy cũng không khỏi sợ hãi, hồn vía len mây, hai chân mềm nhũn ra.
Trương Tiểu Biện hết sức kinh hãi, bỗng nhiên trông thấy phía trước có từng đợt ánh sáng lóe lên. Hắn định thần lại, hóa ra là con hồ ly già bắt chước dáng người, đứng ở trước cửa điện. Thần thái của nó hết sức quái dị, trên trán có một đốm trắng, trông hơi quen, đúng là con có ba mắt đã gặp trong Hoáng Táng Lĩnh hồi trước.
Con hồ ly ba bắt nọ ngậm một hạt châu rong mồm, phía trước đặt một con gà trống lớn mào vàng, lông tía đã bị cắn chết. Nó nhíu mày trợn mắt nhìn vào Trương Tiểu Biện. Lúc ấy, hắn mới biết hóa ra con hồ ly già nhả ngọc làm cho Huỳnh thạch trong mắt mèo tắt ngúm, lại không biết bắt đâu một con gà trống lớn, đựng lên màn kịch “trời sáng, gà gáy” trong đêm khuya.
Tuy Trương Tiểu Biện không biết con hồ ly già này có ý định gì, nhưng rõ ràng đại sự của hắn đã bị nó phá hỏng. Hắn nổi máu nóng, rút ngay khẩu súng Tây trong người, định bắn chết con cáo ba mắt ngay tại chỗ. Nhưng, chính vào lúc đó bỗng nghe trên đầu có tiếng nổ cực lớn như trời long đất lở, thanh âm như xé lụa khiến tai người ù cả lên.

Cả Trương Tiểu Biện Nhạn Linh Nhi, cho đến con hồ ly già ba mắt và con mèo Trường diện La Hán đều bị biến cố kinh khủng đó làm cho đờ ra, cùng nhất tề ngẩng lên nhìn. Trên bầu trời đen kịt mây mưa, chẳng biết từ lúc nào đã nứt toạc ra một đường màu đỏ nâu, kèm theo đó alf tiếng sấm nổ liên hồi, từ hướng Đông Nam có một ngôi sao lớn, sáng như mặt trăng, kéo theo đuôi lửa màu xanh biếc, sa từ trên không trung xuống, rơi đúng vào gian hậu điện chàu Ngõa Quấn, phát ra tiếng nổ cực lớn, tòa điện đường to lớn đó lập tức nát vụn.
Trương Tiểu Biện và Nhạn Linh Nhi hai người đứng trước điện, thấy hiện tượng dị thường, mặt đều xanh như chàm đổ, trong đầu trống rỗng, chỉ thấy một trận gió lạ thổi đến mang theo hơi nóng khốc liệt lạ lùng, cơ thể không tự chủ được, bị hơi nóng hất tung mấy vòng, một lúc lâu cũng không gượng dậy được.
Sao trời sa xuống từ xưa tới nay đều bị coi là điềm dữ. Con cáo ba mắt và con mèo Trường dIện La Hán biết là nguy hiểm, con nào con nấy đều ôm đầu cụp đuôi chạy như một làn khói, trong chớp mắt đã trốn mất tăm mất tích.
Chỗ sao rơi lập tức bùng lên một ngọn lửa khỏng lồ, soi đỏ cả trời. Mặt nước tuy có nhiều vũng nước lớn đọng lại nhưng cũng không thể ngăn được lửa lan rộng. Toàn bộ lầu gác cột trụ của ngôi chùa cổ Ngõa Quán đều bén lửa, lúc đầu thì âm ỉ như đom đóm, sau thì sáng như ánh đèn, cuối cùng càng lúc càng lớn, biến thành

chảo dầu nung nấu đất, hóa ra lò lửa đốt thiêu trời, chẳng khác nào Ngũ thông thần dốc ngược hồ lô lửa, Tống Vô Ky (là lửa thần trong truyền thuyết đời Trần) đẩy ngã con la đỏ. Trận hỏa thiêu lớn này, khói bay lửa táp như bén vào dầu, thật chẳng khác nào

“Chu Lang, Xích Bích bày mưu lạ, hạng Vũ, A Phòng đốt sạch không”
Trương Tiểu Biện mũ giáp tả tơi, toàn thân lấm lem bùn nước, mau có Nhạn Linh Nhi kéo hắn bỏ chạy ra ngoài. Lúc quay lại nhìn ngọn lửa bốc cao đến tận trời, hai người đều kinh hãi khôn xiết, nếu vừa rồi không rời khỏi hậu điện thì đã bị sao rơi đè cho nát nhừ rồi.
Cả hai đều tim đập chân run. Nghe nói trước khi xyar ra trời long đất lở luôn xuất hiện nhiều điềm báo quái dị, các loài động vật có linh tính như mèo, chuột, sâu bọ đều mẫn cảm hơn con người rất nhiều. Chả trách vạn vật ngụ trong ngôi chùa cổ ở Thanh Loa trấn trở nên khác thường, từ đàn cóc núi đội đất chui lên đến bầy chuột tranh nhau chạy trốn, thì ra nơi đây sẽ có sao lớn rơi xuống.
Trương Tiểu Biện thầm nghĩ, mình có thể sống đến giờ toàn nhờ con hồ ly già sống lâu có khả năng linh thông cảm ứng, có ý dẫn dụ Tam gia ra khỏi chùa Ngõa Quan, để báo đáp ân đức: “Hoang Táng Lĩnh giết Thần Ngao”, “Hoàng Thiên Đăng trả ngọc hồ” trước kia. Xem ra, đến loài súc sinh cũng còn biết đến việc có ơn phải báo, còn hơn gấp trăm lần những kẻ làm người mà vong ân phụ nghĩa.
Nhưng, Trương Tiểu Biện vẫn còn thắc mắc khong hiểu nổi, chàu Ngõa Quán đã nguy hiểm như thế, sao Lâm Trung Lão Quỷ còn bảo Tam gia ta ở đó? Kế vãn hồi cơ trời kia là thế nào? Có câu rằng: “Hoa đẹp che đi gai nhọn; Lòng người ai chắc thiện lương” Lâm Trung Lão Quỷ đó, rốt cuộc có ý định gì? Trương Tiểu Biện nhất thời bấn loạn không nghĩ ra bất kì đầu mối nào. Đang lúc hoảng hốt, Nhạn Bái Lý Tứ đã dẫn đại quân vào đến trong trấn. Thì ra, Nhạn doanh ác chiến trọn một ngày đêm, cuối cùng cũng đẩy lui được cuộc vây công của Việt khấu, trong lúc nghỉ ngơi, chỉnh đốn trên đỉnh núi, bỗng thấy có sao lớn rơi xuống, tiếng nổ ầm ầm khiến cho Nhạn doanh và quân Thái Bình, hơn vạn người tim đập lòng run.

Nhạn Bài Lý Tứ chỉ sợ Trương Tiểu Biện và Nhạn Linh Nhi bị sap rơi trúng, vội vã chạy thẳng xuống núi, thấy hai người an toàn mới yên lòng. Gã bảo với mọi người rằng: “Nơi đây không thể ở lâu, bọn Việt khấu làn này đến rất đông, nhỡ ra hình thành thế hợp vây Thanh Loa trấn, trong khi chúng ta không có đại đội quan quân chi viện bên ngoài thì nhất định sẽ khó mà thoát được. Nhân lúc mưa to gió lớn tạm ngừng, và hiện tượng sao trời sa xuống dị thường khiến lòng quân Việt khấu hoảng loạn, chúng ta phải mau thu thập đội ngũ phá vây, rời khỏi núi ngày.
Trương Tiểu Biện suýt nữa bị sao rơi trúng, đang sợ vỡ cả mật, biết rằng hôm nay bị sao xấu chiếu mạng, còn hông biết phía sau còn gặp phải tai họa gì nữa, thôi thì tránh voi chẳng xấu mặt nào, hắn không dám chần chừ nhiều, vội nói: “Đúng là nên như thế”. Đoạn, liền chỉ huy quân sĩ nhổ trại rút lui, từ cửa núi phá vây, mở một đường máu, quăng bỏ mũ giáp, cuốn cờ im trống, vội vã rút lui về thành Linh Châu, chuyện đó không kể tiếp nữa.
Chỉ nói trải qua mấy mùa mưa nắng, năm tháng qua đi, từ khi sao rơi xuống chàu Ngõa Quan trấn Thanh Loa, người dân bản địa lại trờ lại xây nhà dựng cửa. Người ta cho rằng thiên thạch là vật chẳng lành liền hò nhau bới trong đống đổ nát của ngôi chùa cổ, đào nó lên, định đem đi chôn vùi trong một hang núi ở chỗ khác.
Mọi người phát hiện tảng thiên thạch cắm sâu xuống đất mấy thướng. tạo ra một hố lớn trên nền điện, sau khi dọn dẹp hết đống ngói nát gạch vụn đổ vỡ, thấy trong hố có một tảng đá đen, bề mặt đá lồi lõm, bị nung chảy lâu nên có dạng nửa như đồng, nửa như sắt, không phân biệt được loại vật chất gì, ước chừng không dưới mấy trăm cân, dùng bàu bổ dao chặt thì chỉ thấy tóe lửa bốn phía, cúng như thép nguội, không thể bửa ra được.
Quan gia phải ra mặt, cho trưng tập quân dân, trai tráng, dùng trâu thồ, ngựa kéo, hao phí không biết bao nhiêu sức lực mới đưa đưuọc tảng thiên thạch dưới hố lên trên. Khi xem trông hố, người ta lại phát hiện ra một bộ thi hài thổi rữa, tàn khuyết, nửa giống xương mèo, quá nửa là loài lt miêu, có điều to lớn lạ lùng, không giống như mèo thường. Xác chết bị tảng thiên thạch đốt cháy mất mặt mũi, nếu chẳng phải giấu ở dưới tầng đất sâu thì đã bị lửa thiêu đến tro cũng chẳng còn.
Đám ngu dân ấy cho rằng, hiện tượng sao rơi cũng giống như hiện tượng sấm sét, thường xuất hiện vất ngờ, không có dấu hiệu báo trước, càng không phải vô duyên vô cớ mà giết chết sinh linh trên thế gian, Xác chết nọ ắt hẳn là một loài yêu tà gì đó ẩn nấp trong chàu Ngõa Quán, lúc sống đã làm ra việc ác khiến cho quỷ thần tức giận, giáng thiên thạch đánh chết. Xem ra trên đầu ba thước có thần minh, chùa Ngão Quan hoang phế dã nhiều năm mà vẫn còn hiển linh, quả nhiên thần phật vẫn ở quanh đây. Việc báo ứng xưa nay không phải trò đùa, những việc lừa người dối trời nhất quyết không được làm.
Chính vì lẽ đó, có một số nhà giàu chuyên làm từ thiện, đã thành tâm thành ý cuất ra một món tiền bạc lớn, mua gạch ngói, gỗ đá, mướn thợ khóe vẽ dựng lại ngôi chùa trên nền phế tích cũ, sau đó, cho đắp tượng đất vàng. Cũng vì trời giáng thiên thạch giết yêu tà nên đổi tên cũ Ngõa Quán tự thành tiệt Yêu tự, đồng thời, dựng thêm một tòa nhà ngang để thờ riêng tảng thiên thạch nọ. Hương hỏa nghìn năm lại được nối tiếp, ngôi chùa dần trở nên thịnh vượng, mỗi lần chàu có hội hoặc vào ngày phật đản, thiện nam tín nữ trong vòng mấy trăm dặm đều nô nức trảy đến đông đúc, đông người qua lại không ngớt.

Những chuyện đồn đại, ngoa truyền rất nhiều, Trương Tiểu Biện ở thành Linh Châu cũng nhiều lần nghe được, nhưng rốt cuộc cũng không biết nguyên nhân bên trong ra sao, chỉ tự an ủi rằng” không nên chỉ vì một lần thất thế mà đánh mất lí trí”. Hắn chờ đợi mãi, cuối cùng cũng chẳng thấy hiện tượng dị thường nào khác xuất hiện, liền mặc kệ không nghĩ nữa. Thật đúng là : “Vừa khi yên ổn lên bờ; Quên ngay lúc trước mới vừa dưới sông
Không lâu sau khi Nhạn doanh rút khỏi Thanh Loa trấn, thì lại có hịch truyền đến. trương Tiểu Biện vội tiếp lệnh, lúc đầu còn tưởng tiếp tục bị điều động đi trừ Việt khấu, nhưng lần này thì sự tình hết sức trọng đại, thì ra, liên quân Anh Pháp đã áp sát Bắc Kinh, triều đình vội vã điều tinh binh các nơi về kinh để “Cần vương”.Tuần phủ đại nhân đích thân điểm quân Nhạn doanh kiêu dũng thiện chiến để tiến về phía bắc.
Nhạn doanh không dám chậm chễ, lập tức chỉnh đốn binh giáp để xuất quân. Nào ngờ vừa chuẩn bị rời thành thì lại có tin triều đình truyền đến là triều đình đã nghị hòa với người tây, các lộ binh mã lại tiếp tục thảo phạt Việt khấu, không cần phải về kinh Cần vương hộ giá nữa. Trương Tiểu Biện nghe xong thở phào nhẹ nhõm, liền cùng chúng huynh đệ trong doanh đàm kim luận cổ một hồi, cuối cùng nói đến việc liên quân Anh Pháp có bản lĩnh gì, chẳng qua cũng chỉ có mấy nghìn người ngựa mà cũng dám đánh đến Bắc Kinh, chỉ cần Nhạn doanh chúng ta xuất chiến thì một đao chặt đầu ngay tên Tù trưởng mang về ngâm rượu. Bỗng có một tên bộ hạ đến bẩm báo: “Có một vị tiên sinh kể chuyện muốn cầu kiến quan doanh”
Trương Tiểu Biện nghe nói, lập tức nhớ đến hồi trước khi huyết ở Hoàng Thiên Đăng đã dẫn mọi người vào thành nghe kể chuyện, lúc ấy, Tôn Đại Ma Tử còn chưa chết, anh em còn tụ tập cùng nhau, thật là sung sướng biết mấy? Chợt nhớ đến chuyện cũ, hắn tự dung không kìm được tiếng thở dài. Hắn biết vị tiên sinh kể chuyện nọ là một người rất hiểu biết, cũng nên dùng lễ để tiếp đãi, liền hạ lệnh cho thủ hạ mời người đó vào. Vừa gặp mặt, hắn đã cất tiếng chào hỏi: “Tiên sinh à tiên sinh! Ông đến thật đúng lúc, chúng ta đang chán vì nhàn rỗi đây, mau kể cho bọn ta mấy chuyện li kì xưa nay đi nào”
Vị tiên sinh đó hành lễ với mọi người, rồi cười bảo: “Trương Tam gia, không biết có muốn tại hạ kể hầu một chuyện này không?” Trương Tiểu Biện đáp: “Chuyện dã sử chẳng qua cũng chỉ có mấy đoạn đó, ta đã chán nghe từ lâu rồi. Hôm nay, chi bằng tiên sinh kể về sự tích của Nhạn doanh chúng ta đi”. Hắn nảy ra ý định lạ lùng, định bụng bắt vị tiên sinh kể chuyện nọ phải sáng tác ngay một đoạn chuyện tại chỗ, kể về việc hoàng đế trong Tử Cấm thành, khi biết chuyện Nhạn doanh ở Linh Châu dẹp yên giặc giã, có tài nghệ bách chiến bách thắng, trên điện Kim Loan, ngài đã đích thân ban ngự tửu, truyền cho “Trung dũng Nhạn Doanh” vào kinh để ra mắt hoàng thượng. Lúc đó, trong kinh thành khắp hang cùng ngõ hẻm, hàng vạn người không phân già trẻ, gái trai đều ra tranh nhau xme mặt, chỉ thấy doanh quân chữ Nhạn khôi giáp rực rx hành quân đi qua chín cửa xong thì đi qua lầu diễn võ, từng hang Đoản đao thủ, Trường thượng thủ, Cung nỗ thủ, Đằng bài thủ xếp thứ tự đâu đấy, đội ngũ tề chỉnh, dày đặc, đúng là lính như mây, tướng như mưa, quân dung nghiêm chỉnh, trận thế uy nghi.

Các viên tiêu quan nghe thấy thế đều hô hố cười rộ, đồng thanh khen hay, huyên náo như sấm, nhưng vị tiên sinh kể chuyện nọ lại toát mồ hôi lạnh, nghĩ bụng: “Thằng ranh này thực là ba hoa, chẳng sợ gió độc méo mồm hay sao. Thôi cứ phải nói chuyện trong yếu trước mắt đã” Đoạn, ông ta bảo Trương Tiểu Biện rằng: “lần này tại hạ đến đây, đúng là có chuyện lạ muốn kể cho Tam gia nghe, nhưng chuyện này có liên can trọng đại, không tiện nói rộng ra ngoài, chỉ có trời biết đất biết, ngài biết, tôi biết mà thôi”
Trương Tiểu Biện vốn sớm biết vị tiên sinh kể chuyện này không phải không dưng tìm đến đây, liền lập tức cho tả hữu lui ra, và nghĩ trong bụng: “Chỉ e tai vách mạch rừng” bèn hạ giọng hỏi: “Sớm biết tiên sinh là một nhân vật phi phàm, nhìn xa trông rộng, hôm nay có ý đến đây, không biết có việc gì chỉ giáo?”
vị tiên sinh kể chuyện nọ cũng hạ giọng nói: “Trương Tam gia, chúng ta là người ngay không nói chuyện mờ ám, có phải ngài quen với Lâm Trung Lão Quỷ trong mộ Kim Quan đúng không?”
Trương tiểu Biện trong lòng giật thót một cái. Chuyện này xưa nay hắn giấu rất kín, trừ Tôn Đại Ma Tử đã mất mạng trong trận chiến hồi trước ra, hắn không thổ lộ bất cứ điều gì với ai, chẳng ngờ người kể chuyện này cũng biết. Nếu ông ta đã nói trúng tim đen như thế, ắt hẳn cũng là người trong cuộc, huống chi Trương Tiểu Biện cũng còn nhiều điều nghi ngoặc chưa rõ. hắn đành cởi mở trước, không giấu giếm gì nữa, gật đầu thừa nhận rồi hỏi: “Sao tiên sinh biết?”
vị tiên sinh kể chuyện nọ nói: “Chuyện này nói ra rất dài, núi vẫn xanh xnah nước vẫn chảy, muốn biết nguyên do bên trong, xin tam gia hãy nghe từ đầu đến cuối. Trong vùng núi non hoang dã ngoài thành Linh Châu, có một ngôi mộ hôn vùi một di cốt ngậm hờn, dân gian vẫn gọi là mộ Kim Quan. Ngôi mộ này không hề tầm thường, nếu nói hết thì đúng thực là : “kể hết, mây mù buốt vạn cổ; Nói ra gió dữ thấu tầng mây”. rốt cuộc chuyện sau sẽ thế nào, hạ hồi phân giải.
Hồi thứ 8: Miêu nô
Vị tiên sinh nọ hiểu rõ tiền nhân hại quả, mới kể cho Trương Tiểu Biện nghe một câu chuyện. Chuyện ấy là về lai lịch ngôi mộ cổ Kim quan, vốn là nơi mai táng vị Quý phi nương nương. Bà ta lúc sinh tiền giỏi ca múa, dung mạo tuyệt trần, nghiêng nước nghiêng thành, ba nghìn cung nữ trong đại nội không thể sánh bằng, vì vậy rất được Hoàng đế sủng ái.
Bà quý phi ấy rất thích nuôi những giống mèo quý. Phàm là những loài mèo có tiếng trên thế gian, bà ta đều tìm mọi cách để có được, chỉ riêng về Sư miêu thường bám theo bà ta cũng không dưới mười con rồi. Trong đàn mèo đó, có một con Sư miêu Ba Tư có cặp mắt quỷ hai màu khác nhau là quý nhất, lúc nào cũng theo bên cạnh bà ta như hình với bóng.
nào ngờ, một hôm nọ, khi đang chơi đùa trong Ngự hao viên, con Sư miêu mắt quỷ nhìn thấy một con bướm trắng, quấn quýt bên hoa. nó liền vồ chụp, truy đuổi, chạy khỏi đại nộ rồi từ đấy không biết đi về đâu, tìm khắp nơi mà không thấy. Quý phi nương nương cả ngày khóc lóc, cơm cháo chửng thiết, đổ một cơn bệnh nặng, khiến Hoàng thượng hết sức lo lắng, sốt ruột.
Để lấy lòng Quý phi, có mấy vị đại thần trong triều đã cất công tìm trong dân gian mấy trăm nghìn con Sư miêu Ba Tư nhưng đám mèo đó đều không làm Quý phi vừa lòng. lại có vị đại thần không tiếc vàng bac, sai thợ khóe, bỏ bao công sức, tạo ra một con Sư miêu bằng vàng, giống con mèo thật như đúc, thần thái cũng hết sức nũng nụi, riêng cặp mắt mèo được khảm bằng đá quý có màu sắc lạ, cực giống con mèo hồi trước, đựng trong hộp bằng ngọc đẹp, hiến vào trong cung mới khiến Quý phi chuyển nuồn thành vui. Từ đó dễ thấy, năm xưa bà ta được sủng ái thế nào.

Nhưng hoa thơm tàn mau, cảnh đẹp chẳng lâu, mèo là loài vật thông minh, nơi nào đàn mèo tụ tập thì thể nào cũng xảy ra chuyện quái lạ, rốt cuộc cũng làm kinh động đến Thái hậu đương triều. ĐÚng là: “Lặng thì ao, gió vào thì bể, rất nhiều phi tần bị thất sủng nhân cơ hội gièm pha, đồn rằng, Quý phi nọ cả ngày hay thì thầm với bầy mèo, chắc chắn nó là con ly miêu thành tinh ở trong mộ cỏ đã vào cung, dùng yêu thuật để mê hoặc Hoàng thượng, khiến cho triều đình đổ đốn, dần dà ắt sẽ phá hoại giang sơn, xã tắc.
Thái hậu ở lâu trong thâm cung, đã dưỡng thành tính tình âm hiểm đọc ác, liền tìm một cái cớ, treo cổ, giết chết Quý phi. Hoàng đến biết chuyện, tuy rất đau lòng nhưng không dám phản ứng gì. thương xót cho ái phi chết thảm, ông ta hạ chỉ đưa nàng về quê an táng, lúc đầu cho quàn trong làng Kim quan ba năm, đợi đến khi xây xong mộ mới chính thức hạ huyệt, mai táng.
Bầy mèo mà Quý phi nuôi dưỡng trong cung hồi trước cùng đám Miêu nô chăm sóc mèo cũng đều bị đuổi khỏi cung. Đám Miêu nô tưởng nhớ ân đức của chủ cũ liền đem đàn mèo lớn chạy đến thành Linh Châu để cư trú, canh giữ mộ cho Quý phi. Dòng giống ấy cứ sinh sôi mãi cho tới nay, chính vì vậy, bầy mèo hoang trong thành Linh Châu tuy hết sức đông đảo nhưng đều là loại mèo có phẩm cấp rất quý, khiến inh Châu có cái tên là “Miêu Nhi thành”. Nếu truy về nguồn gốc tận cùng thì mộ Kim quan chính là khởi đầu cho việc này.
Đám Miêu nô đều là người Việt, hiểu thuật xem tướng mèo, trong thời gian trú ngự tại thành Linh Châu, canh giữ mộ, họ đã chọn ra vài đệ tử, truyền thụ cổ thuật này, gọi là Miêu chủ. Miêu Tiên Đàm đạo nhân nổi tiếng thiên hạ sau này cũng chính là truyền nhân của dòng mạch đó, chẳng qua là “màu xanh sinh ra từ màu lam nhưng còn xanh hơn màu lam, mà thôi”. Đàm đạo nhân hiểu biết phương vật trên khắp thế gian, biết nhiều dị thuật, nhưng vì xảy ra cái án sai mèo vào cung trộm Dạ minh châu nên ông ra đã mai danh ẩn tích, thay đổi diện mạo, vân du bốn bể, cuối cùng không biết tung tích ra sao.
Bản lĩnh cả đời của Đàm đạo nhân đều được chép trong bộ “Văn vật thông tải”, truyền đến đời sau thì vào tay Miêu chủ Lâm Trung Lão Quỷ của thành Linh Châu, người này không họ không tên, chỉ có một cái đạo hiệu như thế, không những được truyền thị ý bát của dòng Miêu nô, Miêu đạo mà bản thân còn gặp nhiều kỳ ngộ khác. Lão giỏi việc xem bói bằng mèo, nhìn sao trời biết thiên tượng, xem địa lý biết phong thủy, thông hiểu Ngũ hành, nói lành dữ, họa phúc như thần, mặt bàn Tam mệnh, đoán thành bại, hưng suy như thánh.
nhưng, Lâm Trung Lão Quỷ hồi trẻ tâm thuật gian tà, ý đồ dùng Miêu nhi dược luyện thuốc Kim đan, hòng có thể điểm đá hóa vàng, uống vào có thể trường sinh bất lão, vì vậy mới gia nhập Tháp giáo, đã ăn thịt không ít đồng nam, đồng nữ, làm nhiều việc tán tận thiên lương. Có hôm nọ vào núi tìm thuốc, lão gặp phải mưa lớn, và bị sấm sét đánh trúng, nửa người bị hỏng, mặt mũi không ra hình người. Lão may mắn giữ đực tính mạng, dùng mưỡi mèo chắp vào trong mồm, dùng xương mèo, da mèo vá vào thân, từ đó về sau không bao giờ chường mặt thật ra, ẩn nấp trong mộ Kim quan mười mấy ăn.
lão là người hiểu đạo, biết mình tuy thoát khỏi số bị sét đánh nhưng cũng mất đi nửa sinh mạng, lại biết rằng những hành vi Tạo Súc của mình nhất định sẽ bị trời phạt lần nữa. Trường đại hạn này muốn trốn cũng không thể trốn được, chỉ có thể luyện được thứ bàng môn tà đọa chứ không bao giờ thành được chính đạo, vì vậy , lão càng ẩn kín hình tích, không bao giờ dám lộ diện trên thế gian.

Lúc ấy, muốn thành được đại đạo, thì chỉ còn cách dùng phương pháp do các Miêu nô năm xưa truyền lại, chính là tìm một người có phúc lớn để đổi mạng cho mình. Chính vì vậy, lão cất công chờ đợi vất vả trong ngôi mộ cổ nhiều năm, rốt cuộc tìm được người có thể đếm rõ dố mèo trong “Bách miêu mê hồn đồ: là Trương Tiểu Biện. Trương Tiểu Biện sinh ra đã có mệnh Mèo, rất lạ lùng, tử vi tùy thời có thể lên có thể xuống, có thể giàu có thể nghèo.
Lâm Trung Lão Quỷ tự xưng là Miêu tiên, lấy cớ là muốn kết muộn mối thiện duyên, truyền thụ cho Trương Tiểu Biện vài ngón xem tướng mèo, đồng thời bảo hắn có thể được vinh hoa phú quý, quan cao lộc hậu. Trong bóng tối, lão chỉ vẽ cho hắn, mượn tay hắn để tiêu diệt tận gốc Tháp giáo.
Lâm Trung Lão Quỷ là chủ bầy mèo Linh Châu. Lão thấy con mèo Trường Diện La Hán nhiều lần lộ vẻ quái dị, tự biết là kiếp số đã đến. chỉ cần nó mở miệng cất tiếng là mạng lão sắp hết. Nghe đến đoạn này, Trương tiểu Biện cũng đã lấp được khoảng trống về những nhân quả, nợ nần trước đây. Thì ra, Lâm Trung Lão Quỷ muốn mượn viên võ quan tam phẩm của Trương Tiểu Biện để làm hình nhân thế mạng cho lão vượt qua số trời.
Nếu việc của lâm Trung Lão Quỷ thành công, lão sẽ trở nên xuất quỷ nhập thần, gieo tai họa không chỉ trong một thành, một vùng mà thôi. Nào ngờ người tính không bằng trời tính, cũng bởi mệnh của Trương Tiểu Biện cũng chưa đến nỗi đi đứt, rốt cuộc, trong ngôi chùa cổ Ngõa Quán, con cáo ba mắt đã dụ hắn ra ngoài, tránh được cái chết. Lâm Trung Lão Quỷ nọ tuy liệu việc như thần nhưng lão chuyên dối trời lừa người, rốt cuộc cũng tính sai một nước cờ, đến lúc thi hành thuật văn hồi cơ trời thì lại bị thiên thạch giáng xuống, thân thể nát nhừ và bị ngọn lửa nghiệp chướng hóa thành nắm xương tàn.
Xem ra con mèo Trường Diện La Hán hễ mở mồm cất tiếng là chủ nhân của nó ắt bị họa chết người, chỉ có điều, “Miêu chủ” không phải Trương Tiểu Biện mà là Lâm Trung Lão Quỷ. Chuyện này cũng do trời đất xui khiến mà ra, ứng với lời rằng: “Ý trời khó cưỡng”
Trương Tiểu Biện lúc đầu cũng ngầm đoán được vài đầu mối, lúc này nghe được hết tiền nhân hậu họa, biết rằng quá nửa đều là sự thực, nhất định không phải người kể chuyện trước mặt đã đơm điều đặt chuyện. Hắn nghĩ lại mà sống lưng ớn lạnh, nếu không có con hồ ly già ấy đến cứu thì Trương Tam gia đã sớm bị người ta bắt làm, hình nhân thế mạng rồi, chỉ e đến lúc chết cũng còn bị che mắt. Nhưng không biết vì sao, hắn cũng không quá oán hận Lâm Trung Lão Quỷ, nghe chuyện lão bị sao rơi chết trong chùa Ngõa Quán, lòng hắn có chút buồn bã. Hơn nưa, Trương Tiểu Biện biết mình vốn không có số giàu sang vô bờ bến, tuy thế hắn cũng rất hụt hẫng, thực là: “Một mai hiểu rõ vòng nhân quả; Trời cứ sáng trăng, hạc cứ bay”. Hắn hỏi vị tiên sinh kể chuyện rằng: “Xem ra chuyện này có nguồn gốc rất sâu xa, không biết vị tiên sinh đây vốn chỉ chuyên nghề kể chyueenj, làm sao và từ chỗ nào có thể biết rõ ràng đến thế?”
Vị tiên sinh kể chuyện tỏ ra thành khẩn đáp rằng: “Nói ra xấu hổ, tại hạ với Lâm trung Lão Quỷ đều thuộc vào dòng Miêu nô của mộ Kim Quan. Tuy nhiều năm nay, hai bên không qua lại gì nhưng thấy các hành động của Trương Tam gia tại thành Linh Châu, tại hạ biết chắc là có người nào đó đứng sau mách bảo. Có điều, Lâm Trung Lão Quỷ đó là bậc tiền bối cảu tại hạ, lại là một kẻ liệu việc như thần, thủ đoạn lợi hại. Mèo hoang trong toàn thành đều là tai mắt của lão, vì vậy hồi trước mới không dám bảo thẳng với Tam gia, chỉ e đắc tội với lão thì thành ra tự chuốc vạ vào thân”

Trương Tiểu Biện nổi nóng, chửi thầm tiên sinh kể chuyện này đúng là thằng cha thối tha, bèn nói: “Bây giờ mất bò mới lo làm chuồng, kể lại có ích gì nữa?”
Người kể chuyện đó đột nhiên bái rạp trước Trương Tiểu Biện rồi nói: “lâm Trung Lão Quỷ đã chết ở chùa Ngõa Quán, bây giờ Tam gia chính là chủ nhân của bầy mèo trong thành Linh Châu. Thuật xem mèo tìm của vốn nửa chính nửa tà, tất cả đều trông chờ vào người sử dụng, người thiện thì sẽ làm được việc thiện, kẻ ác sẽ làm ra việc dữ. tại hạ bất tài, từ nay về sau xin nguyện theo là tả hữu của Trương Tam gia, làm sư gia của Nhạn doanh”
Trương Tiểu Biện nghe thấy mừng lắm, được thế thì còn gì bằng. Hắn nói: “Trong quân xưa nay thường khó khăn, đơn điệu, Nhạn doanh bọn ta nếu có được tiên sinh ở cạnh, được nghe kể chuyện thì từ nay về sau lo gì buồn chán?” Nhưng, nghĩ theo một hướng khác, hắn thyas người này tuy là tài hoa gấm vóc, đọc rộng cổ kim, nhưng Nhạn doanh của tam gia đâu phải là chõ hắn muốn đến thì đến, muốn đi thì đi, bản lĩnh bày mưu tính kế của hắn rốt cuộc ra sao, còn phải thử tài mới biết được, vì vậy hắn nói rằng: “Vào nơi thủy bạc, lên chốn Lương Sơn đầu tiên phải nộp một cái “đầu danh trạng”, nếu tiên sinh muốn làm gia sư thì trước hết hãy thay Tam gia dến phủ Đề đốc làm thuyết khách, làm thế nào để lão Đồ Hải đme con gái gả cho Trương Tam gia, lúc ấy mới tính tiên sinh là tài”
Tiên sinh kể chuyện thấy Trương Tiểu Biện ra điều kiện kì lạ mới chịu nhận làm tả hữu, liền cười bảo: “Có gì mà khó”, đoạn, vạch ra một kế sách. Vốn bầy mèo hoang trong ngõ Miêu nhi thành Linh Châu có một con mèo khoang nhỏ nhắn, toàn thân đều có đốm lông như đồng tiền, gọi là loại “Thiên Văn Tiền”, thời xưa gọi là “Hỉ Nhi Tiền”. Theo thuật xem tướng mòe mà nói, con mèo này rất giỏi nịnh nọt người ta, hễ nó đi theo người nào thì người đó sẽ được mọi người yêu thích. Mang con mèo này đến phủ Đề đốc để xin chuyện kết thân thì chẳng cần phải mở mồm nói, chuyện hôn sự này cũng đã thành công đến ba phần, ngoài ra, lão Đồ Hải rất mê tín vào bói toán, chỉ cần ngụy tạo cho Trương Tiểu Biện một lá số tử vi cực quý, thêm vào ba tấc lưỡi dụ thuyết của người kể chuyện thì lo gì việc chẳng thành.
Trương Tiểu Biện vốn chỉ định làm khó vị tiên sinh kể chuyện này một chút, chằng ngờ việc lấy con gái lão Đồ Hải lại được lão nói ra dễ dàng như lấy đồ trong túi như vậy, hắn bất giác tươi cười, vội vã định đứng dậy, đến ngõ Miêu Nhi bắt con “Thiên Văn Tiền:, đẻ cho thằng cha cẩu quan Đồ Hải nếm thửu thủ đoạn của hắn.
Nào ngờ tiên sinh kể chuyện lại nói:”Bây giờ đang khi loạn lớn chưa yên, chính là lúc triều đình dụng binh, các lộ quan quân đều đang phải xuống phía Nam tiêu trừ Việt khấu. Trong giai đoạn khẩn cấp thế này, tạm thời không nên bàn việc hôn nhân, chuyện đó thì để sai hãy tính”
Trương Tiểu Biện nghĩ bụng: Thế cũng tốt, Tam gia ta sẽ từ từ tính sổ với lão Đồ Hải, cơm không ăn thì gạo còn đấy, đã có cách hay thì cần gì phải vội vã dung ngay lúc này”. Sau đó hắn cho gọi huynh đệ trong doanh quan, bày một án hương, mời tiên sinh kể chuyện làm lễ thắp hương nhập môn, đọc lời ăn thề. Những chuyện đó không phải bàn tiếp.
Tiên sinh kể chuyện nhập doanh không quá ba ngày, quả nhiên đúng như lời lão, Nhạn doanh phụng mệnh xuống phía Nam dẹp giặc, xem ra, giữa quan quân và Việt khấu sắp nổ ra một trường đại chiến chưa từng có. Trương Tiểu Biện ngờ tiên sinh đó chỉ bảo, trước khi rời thành Linh Châu đã mang theo một con mèo” Đắc Thắng miêu” bênh cạnh, thống lĩnh lính dõng Nhạn doanh, hội hợp với đại đội quan quân, rầm rập trảy đi.

Mấy năm sau đó, Nhạn doanh theo đại quân đánh dẹp Bắc Nam, quét sạch Việt khấu, bụi chiến tranh còn chưa lắng xuống, lại lên phía bắc bao vây, tiêu diệt Niệm phỉ, rồi theo Sở quân của Tả soái Tả Tông Đường tây tiến, một trận lấy lại toàn bọ khu vực Tân Cương, công danh đã được mới về nhàn. Trong ngần ấy năm đã hành quân vạn dặm, lập nên không biết bao công lao hãn mã, lưu truyền rất nhiều sự tích kì lạ, những việc ấy không bàn tiếp ở đây nữa. Thật đúng là: “Bể sâu mới chứa rồng vùng vẫy” trời rộng nên cho phượng rạo chơi”. Tới đây, truyện coi như kết thúc.
Lời cuối: Mèo lạnh lùng
Chuyện

Tặc miêu, tôi bắt đầu viết từ mùa hè năm 2007 cho tới ngày Quốc tế Lao Động 1/5/2008 mới kết thúc. Tuy cả cuốn không dài, nhưng lúc đó, ngoài giờ làm ra, tôi chủ yếu dồn sức để viết cuốn “Ma thổi đèn”. Vì vậy, năm bữa, nửa tháng mới có thời gian viết được một đoạn ngắn trong cuốn

Tặc miêu

, viết đến cuối cùng, ước được khoảng hai chục vạn chữ trong khoảng thời gian gần một năm.
Trong quá trính viết cuốn Tặc miêu, tôi thường tự hỏi mình rằng: “Rốt cuộc làm thế nào chọn được con đường đúng đắn” và” Rốt cuộc thế nào mới được coi là một con đường đúng đắn? Con đường mình đã đi qua là ngẫu nhiên hay là tát nhiên?” Chính vì vậy, dù ít dù nhiều, trong cuốn Tặc miêu cũng lộ ra những băn khoăn đó của tôi.
Tôi thấy rằng, đời người ra có thể nói là một mê cung không có bản đồ mà điểm khởi đầu là lúc ta sinh ra và điểm cuối cùng là khi ta chết đi. Cũng bởi trong đường đời, mỗi giây mỗi phút, mỗi nơi mỗi lúc, chúng ta đều phải đối mặt với vô số các sự lựa chọn, tựa hồ đầy ắp những điều có thể không bao giờ hết. Nhưng khi anh dừng chân, ngoảnh đầu lại nhìn, hẳn là sẽ phát hiện ra, trong mê cung đời người ấy, các ngã ba đan xen phức tạp dẫu nhiều không đếm xuể nhưng chẳng có chỗ nào để mà quay đầu lại, từ điểm đầu đến điểm cuối cùng chỉ có một con đường duy nhất. Dẫu là thành công, hay là thất bại, cho dù là con đường do mình chọn lựa, hay con đường do người khác mách bảo thì đều là những con đường chưa chắc chắn chính xác. Không đi tới tận cùng, ai mà tiên liệu được, tôi nghĩ con đường đó chính là “con đường vận mệnh”
Trương Tiểu Biện trong

Tặc miêu

cũng như thế. Hắn găọ được kì nhân dị sĩ trong mộ cổ Kim quan, được mách bảo con đường vinh hoa phú quý, nhưng trên thực tế, hắn bị biến thành hình nhân thế mạng để ngăn chặn hộ kiếp nạn cho người ta. Nhưng, ngay cả Lâm Trung Lão Quỷ liệu việc như thần cũng không cách nào thoát khỏi “lực hút của vận mệnh”
Còn lính dõng trong Nhạn doanh, họ xuất thân từ đám lục lâm, thảo khấu, trong mắt vốn chẳng có khái niệm “tung quân báo quốc”. họ xả thân, liều chết, bán mạng cho Trương Tiểu Biện, chẳng qua một là vì miếng cơm manh áo; hai là vì Trương Tiểu Biện là người thân tín của Tuần phủ đại nhân. Trong thời loạn lạc, vận mệnh của mỗi cá nhân nhỏ bé tới mức không đáng kể đến, chỉ còn cách dựa dẫm vào một vận mệnh to lớn hơn mới có cơ hội để tồn tại. vì vậy, xét trên góc độ này, mỗi nhân vật trong

Tặc miêu

thực ra đều chỉ là số phận trên một canh bạc, phải tự tìm thấy một con đường thuộc về mình, có thể nói đó là con đường tanh máu mà tiền đồ còn chưa biết trước được.
Trên đây là những suy nghĩ của cá nhân tôi trong thời kỳ sáng tác

Tặc miêu

, sau đây, tôi muốn nói về bản thân câu chuyện, trước tiên là về ngôn ngữ trong đó. Bối cảnh của câu chuyện

Tặc miêu

xảy ra trong những năm Hàm Phong đời Thanh, vì vậy tôi lựa chọn thứ ngôn ngữ gần như kiểu tự thuật BẠch Thoại khi bình sách. Từ trước đến nay tôi đều cho rằng, những câu chuyện có bối cảnh thời đại không giống nhau thì cần phải có phong cách ngôn ngữ khác nhau, nếu chuyện xảy ra vào thời cổ mà xuất hiện nhiều thứ ngôn ngữ cận hiện đại thì sẽ khiến người đọc cảm thấy buồn cười, chí ít là bản thân tôi không thể chấp nhận điều đó. Giả dụ Trương Tiểu Biện nói: “Người đẹp như cô tuy đáng yêu nhưng gợi tình và bạo lực quá”. Như thế, rõ rang không thích hợp chút nào, chi bằng viết Trương Tiểu Biện nói: “Người phụ nữ này bản tính phi ohamf, giết người không chớp mắt, hơn cả bọn mày râu”
Trước đây, tôi từng có mơ ước trở thành một đạo diễn, nhưng nghĩ đời tôi không có hy vọng gì nữa rồi, đành thong qua việc sáng tác truyện với các đề tài khác nhau để tự thỏa mãn ước vọng nhỏ nhoi của mình. Những bộ phim của đạo diễn nổi tiếng Stanley Kubrick có cả đề tài viễn tưởng như ” Du hành vũ trụ năm 2011″, đề tài chiến tranh như”Áo khoác bằng thép”, tưởng chừng mỗi bộ phim đều có loại hình và phong cách khác nhau nhưng đều là những tác phẩm kinh điển để đời. Tôi nghĩ, người đạo diễn kể một câu chuyện cho công chúng bằng ngôn ngữ hình ảnh, còn nhà văn lại kể câu chuyện bằng ngôn ngữ viết, mỗi tác giả cũng nên cố gắng viết về nhiều loại hình truyện khác nhau. Tôi tuy là nhà văn không chuyên nhưng cá nhân tôi cũng hy vọng đem lại cho bạn đọc những tác phẩm với nhiều sắc thái khác lạ. Tính tới nay, trong toàn bộ tác phẩm của tôi thì

Tặc miêu

là cuốn làm tôi hài lòng nhất về mặt biểu cảm ngôn ngữ.
Nói về phong cách câu chuyện

Tặc miêu

thì rất đậm chất truyền kỳ thô sơ. Tuy rất nhiều nhân vật trong đó xem ra chỉ là những tên lưu manh đầu đường xó chợ và có rất nhiều con mèo hoang thú vị, nhưng xét về tổng thê,

Tặc miêu

hoàn toàn không phải là một câu chuyện khôi hài, giải trí. Trong giai đoạn chiến tranh loạn lạc, lòng người li tán, quân Thanh và quân Thái Bình chem. Giết nhau khiến cho thây nằm đầy nội, máu chảy thành song, các hình phạt tàn khốc của quan lại càng hết sức dã man, bầy mèo hoang trong thành tưởng nhủ thân cận với Trương Tiểu Biện nhưng trên thực tế đều là tai mắt, ngầm ngầm theo dõi nhất cử nhất động hắn từ trong bóng tối, sau tất cả những sự việc đó, Trương Tiểu Biện nghĩ lại mà còn thấy ớn lạnh trong lòng.

Trong truyện

Tặc miêu

đề cập đến rất nhiều bội dung liên quan đến thuật xem tướng mèo, tôi thường được độc giả nêu câu hỏi về sự thực của các nội dung đó. CHuyện xem tướng mèo đúng là có thực ở khu vực Quảng Đông, trên đời cũng vẫn còn lưu truyền “Miêu kinh”, còn những chuyện về các loài mèo hoang Linh Châu được đề cập trong

Tặc miêunhư con mèo tiên bốn tai vào hoàng cung đại nội ăn trộm Dạ minh châu, con NGuyệt ảnh ô đồng kim tuyến miêu, con mèo Trường diện La Hán, con Độ thủy hồ lô miêu, cho tới những con mèo không có cơ hội xuất hiện như Thiên Văn Tiền, Đắc Thắng miêu… , đều do tác giả xây dựng nên. Tôi nói giỡn mà chơi, bạn nghe giớn chơi, nói chung nên tưởng tượng bọn chúng là một nhánh của mèo Ba Tư.
Trong câu chuyện

Tặc miêu

, ngoài bối cảnh sự thật lịch sử ra, còn có nhiều sự vật có thể tìm thấy ở các tư liệu bên ngoài, không phải hư câu hoàn toàn. Nhưng việc dó xịn để bạn đọc tự tìm hiểu, tôi không nói nhiều tỏng lời cuối này nữa, chỉ nói về mấy truyền thuyết dã sử mà bối cảnh trong truyện

Tặc miêu

đã tiếp cận.
Một là về những con chó hoang hung ác nhu Thát tử khuyển và việc “chó húc”. Đó đều là những việc có thực. Thát tử khuyển tuyệt chủng khá sớm, từ sau đời Thanh đã không còn thấy các tài liệu liên quan ghi chép nữa, còn việc chó hoang húc ván quan tài để ăn xác chết thì cách đây mấy chục năm vẫn còn có người chính mắt trông thấy. Bọn chúng trên trán có khối u thịt đỏ màu máu, thường xuất hiện ở các vùng ngoài ô hoang vu và xóm làng hẻo lánh, tới mấy năm gần đây thì không thấy nhiều nữa.
Hai là về chuyện Tạo Súc. Yêu thuật Tạo Súc tục truyền có thể biến người ta thành trâu, ngựa, lợn, dê để mang đi bán. Việc này được ghi chép ở nhiều sách vở liên quan, trong đó, cuốn nổi tiếng nhất là Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh tiên sinh. Việc đó chỉ là truyền thuyết dân gian mà thôi, thời xưa chưa chắc đã có yêu thuật này, trong truyện Tặc miêu tôi miêu tả những kẻ lột bộ da chó, da khỉ tươi, bọc lên mình đứa bé vừa bắt cóc được, rồi huấn luyện chúng nhào lộn, nhảy vòng lửa, bắt làm khỉ xiếc, chó xiếc để biểu diễn kiếm tiền nơi đầu đường xó chợ, đều là những sự thực. Tuy chúng không nằm trong truyền thuyết về đám Tạo Súc nhưng tôi cho rằng, những việc đó rất phù hợp với bản nghĩa của hai chữ “Tạo Súc”, có điều chưa từng khảo chứng, không biết giữa hai bên có phải là một hay không.
Thứ ba là một số truyền thuyết dân gian về mèo. Mọi người đều rõ, ở Ai Cập, người ta coi mèo là thần linh, ở Trung Quốc thì chưa từng có phong tục thờ cúng Miêu Tiên. Thời xưa từng có truyền thuyết về Bát tiên động vật và Ngũ đại gia, chuột cũng là một số trong đó, nhưng từ đầu chí cuối không hề có chỗ cho loài mèo. Tuy nhiên, ở phương Đông, không chỉ riêng Trung Quốc mà cả ở Nhật Bản, Thái Lan… , mèo được coi là một linh vật thần bí, ví dụ như những chuyện “mèo già biết nói tiếng người nhưng đó là điều cấm kỵ nên không dám nói”, đều có thể trở thành các câu chuyện rất thú vị. Độ dài của truyện Tặc miêu có hạn, không có cách nào viết nhiều hơn về những truyền thuyết và dật sự liên quan đến mèo hoang, nếu về sau có cơ hội, tôi sẽ kể nhiều hơn một chút. Ngoài ra, những ghi chép thời cổ về thiên thạch rơi và hiện tượng thành phố Tháp thì tôi không muốn kể lể dài dòng thêm nữa.
Tôi nhớ rằng, bạn đọc nhiều lần hỏi tôi: Trương Tiểu Biện trong Tặc miêu và Mô kim Hiệu úy Trương Tam Liên Tử trong Ma thổi đèn đều không nói rõ tên thật, đều cùng tự gọi mình là Trương Tam gia, lại cùng theo Tả soái Tả Tông Đường tây chinh Tân Cương, liệu có phải là một người?
Tôi nghĩ cần phải giải thích chỗ này một chút. Tặc miêu hoàn toàn không phải là đoạn trước của Ma thổi đèn, toàn chuyện không liên quan gì đến việc mò vàng, trộm mộ. Câu chuyện Tặc miêu xảy ra ở thành Linh Châu, bắt đầu từ khi Trương Tiểu Biện trộm hụt gà, đêm lạc vào mộ cổ Kim quan cho tới khi người kể chuyện đến gia nhập quân doanh và Nhạn doanh xuống phía Nam chinh chiến là kết thúc hoàn toàn. Từ nay về sau, nếu có cơ hội, tôi chắc chắn sẽ tiếp tục viết về những sự tích Nhạn doanh vào Kinh thành để truy bắt dư nghiệt Tháp giáo, huyết chiến với Hầu tử trận của Niệm quân ở Hiệp Tây và tác chiến trên sa mạc Hồi Cương. Rốt cuộc Trương Tiểu Biện có phải là Mô kim Hiệu úy Trương Tam Liên Tử hay không, nghi vấn này, tôi xin để lại cho độc giả.
Nói đến đây, tôi cũng rất cảm tạ bạn đọc của truyện Tặc miêu. Trong đó, có những người tôi chưa từng gặp nhưng phần lớn tôi đã từng gặp qua, tôi luôn luôn ghi nhận những đồng cảm mà các bạn đã mang đến cho tôi. Trân trọng cảm ơn các bạn đã ủng hộ và quan tâm. Chúc các bạn mạnh khỏe, bình an, vạn sự như ý.
Tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn chân thành đến Văn Na, người đã thiết kế vẽ bìa và hình minh họa của cuốn sách. Cảm ơn bạn đã vẽ những bức tranh rất đẹp cho Tặc miêu. Cuối cùng, đối với những biên tập viên đã duyệt cho tác phẩm này, tại hạ viết sai rất nhiều chữ, chấm phẩy vốn lung tung, các vị đã vất vả với tại hạ quá rồi!
Thiên Hạ Bá Xướng – Trương Mục Dã

4.5 (90%) 2 votes

Related Posts

About The Author