<

[Vụ án có thật] Hai thế kỷ

[Vụ án có thật] Hai thế kỷ - Chương 66

HƠI THỞ CỦA QUỶ (P6)

Kim cầm trong tay vật mà Yersin tin tưởng giao cho. Bóng Kim khuất phía xa, Yersin quay ngay vào phòng thí nghiệm của bệnh viện École de Médecine de l’Indochine, trường Y Đông Dương, mà sau này là Đại học Y Hà Nội. Yersin không phải là người tham quyền cố vị, khi được Doumer giao cho trọng trách xây dựng trường Y Đông Dương năm 1902, Yersin chỉ làm hiệu trưởng hai năm rồi lui về Nha Trang nghiên cứu. Lần này, Yersin được mời trở lại Hà Nội vì một lý do khác, sau hơn mười năm rời khỏi trường, là loại độc dược đang dùng để ám sát những người anh em mà Yersin yêu mến ở đây. Người dân ở đây còn lạc hậu, họ gọi là bị quỷ ám, nhưng Yersin biết là một chất độc vô danh nào đó khiến họ trở nên như vậy.

Nói rồi Yersin khoác chiếc áo blouse đi nhanh xuống phòng xác. Người anh em của ông trong hội, toàn thân đã cứng đờ, khuôn mặt thể hiện sự kinh hãi tột độ, các bắp thịt co rút, những dây gân rút chặt lại. Một trải nghiệm kinh hoàng với người đã chết. Yersin lấy dao mổ cuốn họng nạn nhân ra, không thấy một vết đen nào, rồi để ý môi cũng không bị thâm, liền ghi nguệch ngoạc vào cuốn sổ nhỏ kế bên: độc không đi qua đường miệng. Rồi lấy chiếc kính lúp soi kỹ trên từng động mạch lẫn tĩnh mạch, thật kỹ để viết tiếp vài dòng kết luận: Không tiêm.

Yersin mở mí mắt nạn nhân lên, những mạch máu lan dần đến tròng đen, ghi vội: Kích thích thần kinh mãnh liệt.

Nó là gì? Yersin đau đầu nghĩ.

“Và giờ,” tôi nói, “đến lúc lên Đà Lạt. Kỳ Nam, em hãy đưa phong thư này đến với Vô Khuyết. Thôi, chúng ta đi kẻo trễ.”

Phi và Phong sóng bước cùng tôi ra khỏi cửa. Hai người gác-dan gần như gục gà trong cơn mê ngủ, họ không chú ý đến bước chân đi nhanh ra khỏi sảnh của chúng tôi. Phi hỏi, “Anh lên Đà Lạt ngay trong đêm hẳn là việc này rất quan trọng?”

Tôi lắc đầu, “Không hẳn. Mà tôi sợ rằng mình đến trễ.”

“Trễ?”

“Tôi e rằng lão đã có thông tin từ tôi, hi vọng tôi đến kịp.” Tôi quay sang Phong, chân vẫn sải bước nhanh, “Phong vẫn còn nhớ căn nhà nhỏ bên dưới hồ Tuyền Lâm chứ?”

“Không ai trong chúng ta có thể quên được nó.”

“Nếu thầy cất giấu ở đó thì khả năng cao nhất sẽ là ở đâu?”

“Phong nghĩ nó sẽ nằm ở nơi mà người ta không thể nào đụng đến.”

“Và còn nữa.”

Một thoáng thở dài, Phong đáp, “Nơi mà Phong sợ hãi nhất.”

“Là nơi nào vậy?” Phi tò mò.

“Căn nhà của những tiếng thét.” Tôi và Phong cùng đáp.

Nhìn mặt Phi tôi hiểu anh không hiểu gì, tôi gọn lỏn, “Nhiều người vẫn thường gọi là: Căn nhà ma.”

“Thầy chúng ta rất thông minh” Phong tiếp, “Khi biến một căn nhà có huyền thoại ma mị, không ai dám đặt chân đến mảnh đất đó, hoặc ít nhất người ta tránh xa nó. Nó sẽ được an toàn trước những bàn tay trục lợi của bọn có tiền.”

“Làm cách nào?”

“Tôi không biết,” tôi đáp, “Lúc đó chúng tôi đều còn quá nhỏ. Nhưng vẫn còn bị ám ảnh bởi tiếng thét mỗi đêm từ căn nhà đó.”

Phong đứng sững lại, đôi mắt ưu tư, rồi anh thở dài, “Và cả người đàn bà mặc áo đỏ.”

***

Cả bốn người chúng tôi bước lên máy bay, Phong ngỏ ý muốn ngồi cạnh cửa sổ. Tôi hiểu được tâm trạng đó, anh cần sự riêng tư trước khi đối mặt với vấn đề. Tôi thì cố nhớ lại phần nào ký ức về Đà Lạt. Những mảnh ký ức vẩn vơ mà tôi không chắc cái nào là thật, những người đội mũ đỏ đi trên triền đồi, những chiếc áo khoác màu đỏ trong căn nhà đó, tiếng thét lúc nửa đêm, tiếng bước chân và… và còn một cái gì nữa mà tôi không tài nào nhớ nổi.

Người đàn bà dáng đi thẳng, tay cầm ngọn đèn cầy, mặc cho sáp nóng chảy lên tay, bước chân vẫn vậy lên cầu thang gỗ. Tiếng ọp ẹp mà đám mối đã khiến cho nó trở nên lớn hơn, chiếc áo dài màu đỏ, tà áo lướt trên từng bậc tam cấp. Tim tôi đập mạnh, rồi xoay ra nhìn cả đám. Lần lượt mỗi đứa nhìn vào khe ổ khoá cửa. Người đàn bà gục trên bàn khóc, tiếng rè rè máy hát vang lên giọng não nề của Khánh Ly.

Một bài hát quen thuộc, Khi màn nhung buông.

Khi màn nhung mở ra, kịch đã bắt đầu
Đèn mầu soi lên, rộn ràng sân khấu
Và ban nhạc tưng bừng vang, dạo khúc khai màn
Chàng là vai quen, trong vở ái ân nồng.

Chàng là vai chính, hiệp sĩ mắt xanh
Vì nước yêu dân, một đấng anh hùng
Nên nhiều cô phải mê và mến yêu chàng
Để buồn cho em, người đóng vai thường…

Làm sao mà trao tình em cho ai ?
Làm sao xa người yêu ?
Tình trên sân khấu, tình giữa hai vai
Tình giữa chúng tôi, tình giữ trong đời.

Tình đã dâng người ơi !
Làm sao hết thắc mắc, khó quá
Có anh trong đời không chịu để lìa xa.

Đêm kịch xong chàng đi cùng với ai rồi !
Và màn nhung buông, đời là tăm tối
Rồi em lẻ loi, lẻ loi về giữa đêm buồn
Còn mùi hương thơm, chàng đã ôm em

Chàng là vai chính, hiệp sĩ mắt xanh
Vì nước yêu dân, một đấng anh hùng…

Nên nhiều cô phải mê và mến yêu chàng
Để buồn cho em, người đóng vai thường.
Làm sao hết thắc mắc, khó quá
Có anh trong đời không thể chịu lìa xa.

Đêm kịch xong chàng đi cùng với ai rồi
Và màn nhung buông, đời là tăm tối
Rồi em lẻ loi, lẻ loi về giữa đêm buồn
Còn mùi hương thơm, chàng đã ôm em.

Tình em, còn đó, còn trong mơ
Người ơi xin gửi cho…

Người đàn khóc, khóc gần như thét, và thét. Tiếng sét ngoài trời làm nổi bật khuôn mặt lạnh toát của ả, rồi chẳng bao lâu bầu trời rầm lên một tiếng. Ả tung người ra giữa sảnh, ả múa, dải lụa đỏ tung bay trong căn phòng tối lập loè ánh nến. Phong từng bước đi vào hành lang tối, con đường duy nhất dẫn đến căn phòng đó. Và ánh đèn vụt tắt. Tiếng thét lại vang lên, như tiếng cười, khanh khách.

Nửa tiếng trôi qua. Sân bay Liên Khương đón chúng tôi vào đúng cái lạnh mùa Đông. Tôi không chịu nổi sự thay đổi của cái lạnh đột ngột, nhưng Phong gần như thất thần, đôi mắt anh như đang thâm quần.

“Phong khoẻ chứ?” Tôi hỏi.

“Cảm ơn Kiệt, Phong cần riêng tư lúc này.”

Nói rồi anh đi thẳng ra phía trước. Cả ba người chúng tôi nhìn nhau, Phi hiểu Phong đang gặp vấn đề với chính mình, còn Minh Tuấn thì chẳng hiểu gì. Một chiếc xe hơi chờ chúng tôi ở cửa sân bay.

Gió lạnh lùa dưới chân, càng lúc càng mạnh. Bầu trời đêm nổ đầy sao, gần như bắt lấy được. Phong nhìn lên bầu trời, đưa nhẹ bàn tay, như muốn bắt lấy nó. Cơn lạnh thổi qua, anh run người, co rúm lại, anh đưa một hũ nhỏ lên mũi hít một hơi để cố giữ ấm.

 

Bình luận